Các xu hướng phát triển mới và dự báo tình hình kinh tế thế giới thời gian tới

Ngày 9/11/2023, tại TP. Hồ Chí Minh, Ban Chỉ đạo TP. Hồ Chí Minh về hội nhập quốc tế và Viện Nghiên cứu Phát triển TP. Hồ Chí Minh đã phối hợp với Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế, tổ chức Hội nghị liên kết vùng với chủ đề “Nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh và bền vững”.

Chúng tôi giới thiệu bài tham luận của ông Trịnh Minh Anh – Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế.

Quang cảnh buổi hội nghị

Trước hết, thay mặt Văn phòng Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Chỉ đạo TP. Hồ Chí Minh về hội nhập quốc tế và Viện Nghiên cứu Phát triển TP. Hồ Chí Minh đã phối hợp với Ban Chỉ đạo liên ngành tổ chức Hội nghị liên kết vùng với chủ đề “Nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh và bền vững”.

Đây là Hội nghị rất có ý nghĩa bởi được tổ chức trong bối cảnh cách đây 3 tháng, Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 93 về nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2023-2030, trong đó đề ra những định hướng lớn cho công tác hội nhập kinh tế quốc tế thời gian tới.

Thêm vào đó, Hội nghị được tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh, đầu tàu kinh tế của cả nước và cũng là một trong những địa phương tiên phong trong lĩnh vực hội nhập, tuy nhiên trong khoảng đầu năm 2023 đã chịu những ảnh hưởng tiêu cực từ những biến động của tình hình thế giới và hiện nay đang trên đà hồi phục.

Hội nghị còn có sự tham gia của đại diện các Ban Hội nhập quốc tế từ các tỉnh lân cận và đại diện các Hiệp hội, ngành hàng, các doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực. Đặc biệt, Hội nghị này được kết hợp với chương trình làm việc của Đoàn khảo sát liên ngành về hội nhập kinh tế quốc tế, gồm đại diện của các Bộ, ngành, cơ quan liên quan trực tiếp đến các lĩnh vực hội nhập.

Tại Hội nghị ngày hôm nay, chúng tôi không chỉ trao đổi và còn muốn lắng nghe ý kiến của các địa phương, doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng về những vấn đề nảy sinh trong quá trình triển khai công tác hội nhập kinh tế quốc tế và triển khai các cam kết quôc tế để từ đó phản ánh và kiến nghị với các Bộ, ngành và Chính phủ phương án giải quyết, tháo gỡ các khó khắn, vướng mắc cho các địa phương và doanh nghiệp.

Hội nghị sẽ thảo luận về những thuận lợi và khó khăn, vướng mắc của địa phương và cộng đồng doanh nghiệp tại địa phương trong quá trình triển khai hội nhập kinh tế quốc tế và thực thi hiệu quả các FTA mới (tập trung các vấn đề liên quan đến tận dụng cam kết trong các FTA, các vấn đề nổi bật trong thực thi FTA như quy tắc xuất xứ, phòng vệ thương mại, cập nhật về rào cản kỹ thuật, các biện pháp SPS đối với nông sản xuất khẩu…), trên cơ sở đó đề xuất với Chính phủ, BCĐLNKT, các bộ, ngành các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong quá trình triển khai công tác hội nhập kinh tế quốc tế và thực thi các FTA.

Hiện nay Việt Nam đang triển khai hội nhập sâu rộng và toàn diện trên tất cả lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng với hội nhập kinh tế là trọng tâm. Do vậy, nền kinh tế Việt Nam vừa phải đảm bảo độc lập tự chủ, vừa phải gắn kết chặt chẽ với kinh tế thế giới để kịp thời nắm bắt những cơ hội và vượt qua thách thức trong tiến trình hội nhập.

Ông Trịnh Minh Anh, Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế.

Thế giới ngày nay đang có nhiều diễn biến phức tạp nhưng tựu chung lại, có một số xu thế nổi bật như sau:

  1. Thế giới chuyển từ nền kinh tế tri thức tới toàn cầu hóa số và kinh tế số dưới tác động của cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư

Năm 2011, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Công nghiệp 4.0) đã được nhen nhóm ở Hội chợ Công nghệ Hanovo (Đức) với các mũi nhọn, gồm trí tuệ nhân tạo (AI), rô-bốt công nghệ nano, dữ liệu lớn (Big Data), in-tơ-nét kết nối vạn vật (IoT), điện toán đám mây (Cloud Computing), công nghệ không dây thế hệ thứ 5, công nghệ in 3D và phương tiện vận tải không người lái…

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã thúc đẩy phát triển kinh tế số (Digital Economy) và toàn cầu hóa số (Digital Globalization). Khác với kinh tế tri thức (phụ thuộc trực tiếp vào việc sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức, thông tin), kinh tế số vận hành chủ yếu dựa trên công nghệ số.

Công nghệ số tạo ra sự kết nối trực tiếp giữa các chủ thể và chu trình vận hành kinh tế, giúp tối ưu hóa kết nối các quá trình xử lý vật liệu, năng lượng và thông tin, lược bỏ nhiều khâu trung gian và gia tăng cơ hội tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu, đồng thời thúc đẩy toàn cầu hóa số.

Công nghệ số hiện đã được nhiều quốc gia sử dụng cả trong phát triển kinh tế, xã hội, y tế như một phương thức tối ưu và hiệu quả nhằm đối phó với những tác động của đại dịch COVID-19.

Tuy nhiên, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng làm gia tăng khoảng cách phát triển giữa các quốc gia và định hình lại bản đồ kinh tế thế giới. Trong đó, các nền kinh tế phát triển dựa trên nền tảng công nghệ sẽ chiếm ưu thế, trong khi các nền kinh tế “thâm dụng” tài nguyên khoáng sản hay “thâm dụng” lao động thì dần trở nên mất lợi thế.

Nói cách khác, các quốc gia đang phát triển sẽ phải đối mặt với nguy cơ tụt hậu khi mất đi những lợi thế cạnh tranh cũng như cơ hội mang lại từ cuộc chiến công nghệ này.

Trong khi đó, các nền kinh tế phát triển vốn đã có lợi thế tài chính và nhân lực chất lượng cao, lại biết tận dụng tốt cơ hội sẽ phát triển ngày càng mạnh mẽ và ổn định hơn. Điều này khiến cục diện kinh tế thế giới ngày càng trở nên mất cân bằng và nhiều rủi ro hơn.

  1. Toàn cầu hóa chuyển dần sang khu vực hóa thương mại, xu hướng hợp tác song phương đang chiếm ưu thế so với hợp tác đa phương

Sự ra đời của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), ký năm 1947 – tiền thân của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), là một hiệp định thương mại đa phương giữa các thực thể kinh tế độc lập hướng tới mở rộng thương mại quốc tế.

Từ năm 1995, GATT trở thành WTO theo các điều lệ mới. Có thể thấy rằng GATT/WTO là một trong những thiết chế trụ cột (Liên Hiệp Quốc, IMF, WB) trong trật tự thế giới hình thành sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay.

Tuy nhiên, với những diễn biến gần đây cho thấy sau gần 3 thập kỷ, vị thế của WTO đang bị suy giảm. WTO đang đứng trước yêu cầu phải cải cách, nhất là sau những động thái đi trái lại với những quy định của WTO từ Mỹ.

Bên cạnh đó, với sự ra đời của nhiều cơ chế/sáng kiến ở cấp độ khu vực, đặc biệt là sự bùng nổ của các FTA sẽ dẫn đến sự kết hợp giữa bảo hộ và khu vực hóa các chuỗi giá trị, thay đổi theo từng lĩnh vực. Những liên kết kinh tế – thương mại trở thành công cụ quan trọng trong cạnh tranh chiến lược ngày càng quyết liệt giữa các nước lớn nhằm giành quyền dẫn dắt, tập hợp lực lượng ở các khu vực.

Để nắm ngọn cờ tập hợp lực lượng chính trị – chiến lược ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, các nước lớn đều tranh thủ, lôi kéo các nước vừa và nhỏ, nhất là các nước ASEAN tham gia liên kết do mình dẫn dắt.

Tuy nhiên, một số nước lớn và nhóm nước khác ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương cũng ngày càng chủ động trong việc tham gia dẫn dắt, định hình các tập hợp lực lượng kinh tế – thương mại ở khu vực nhằm bảo vệ lợi ích của mình, đồng thời ngăn ngừa khả năng Trung Quốc ảnh hưởng quá sâu vào các “sân chơi” kinh tế cũng như khả năng Trung Quốc – Mỹ thỏa hiệp với nhau để hình thành cục diện G2 phân chia khu vực ảnh hưởng.

Các đại biểu tham dự hội nghị phát biểu ý kiến

  1. Sự đấu tranh giữa xu hướng gia tăng bảo hộ thương mại và chống bảo hộ thương mại

Bảo hộ thương mại là việc các quốc gia áp đặt thuế nhập khẩu cao hoặc áp dụng các hàng rào kỹ thuật (yêu cầu cao về chất lượng, vệ sinh, an toàn, lao động, môi trường, xuất xứ…) đối với một hoặc một số mặt hàng (hay dịch vụ) mà mình có lợi thế để hạn chế nhập khẩu, bảo vệ ngành sản xuất hàng hóa (hay dịch vụ) của mình.

Có thể thấy rằng, toàn cầu hóa, tự do hóa thương mại tuy là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thế giới nhưng do sự bất bình đẳng về lợi ích kinh tế giữa các quốc gia; giữa các khu vực, tầng lớp, thành phần xã hội trong mỗi quốc gia đã dẫn đến xu hướng chống toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại.

Với sự phát triển của khoa học và công nghệ, thương mại thế giới đã xuất hiện thêm các hình thức thương mại hàng hóa, dịch vụ xuyên biên giới, “xóa nhòa biên giới quốc gia”, làm giảm vai trò của các lợi thế so sánh trước đây. Vì vậy, một số quốc gia thúc đẩy các doanh nghiệp dịch chuyển trở về nước mình nhằm gia tăng lợi ích của quốc gia mình.

Nhiều chính phủ tuyên bố ủng hộ tự do hóa thương mại, tôn trọng các nguyên tắc thị trường, phê phán chủ nghĩa bảo hộ nhưng trên thực tế lại hành động ngược lại, kể cả áp dụng biện pháp can thiệp hành chính.

Trong bối cảnh chủ nghĩa bảo hộ thương mại có xu hướng gia tăng, các quốc gia trên thế giới vẫn đang tiếp tục đàm phán các hiệp định Thương mại tự do để tạo điều kiện cho sự lưu thông hàng hóa, thương mại, dịch vụ giữa các quốc gia và khu vực.

Sự ra đời của các Hiệp định như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) chính là thông điệp mạnh mẽ chống lại xu hướng bảo hộ đang nổi lên ở nhiều nơi trên thế giới.

  1. Xu hướng dịch chuyển của chuỗi cung ứng trên thế giới sau đại dịch covid

Chuỗi cung ứng toàn cầu trong thời gian tới sẽ dịch chuyển theo 3 hướng, đó là:

Thứ nhất, dịch chuyển chuỗi cung ứng sang các nước trong cùng khu vực địa lý để giảm phụ thuộc hoặc tránh rủi ro từ chiến tranh thương mại hoặc các đòn trừng phạt lẫn nhau giữa các nền kinh tế.

Thứ hai, dịch chuyển chuỗi cung ứng đòi hỏi thực hiện đầu tư, thường gắn với hoạt động sản xuất có công nghệ cao, sản phẩm hàng hóa chiến lược có giá trị gia tăng cao, liên quan tới bí mật công nghệ và an ninh quốc gia.

Hướng dịch chuyển này đưa đến việc doanh nghiệp di chuyển toàn bộ hoặc một phần sản xuất về chính quốc, diễn ra đối với các nền kinh tế phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Liên minh châu Âu;

Thứ ba, tái cơ cấu, sắp xếp lại chuỗi cung ứng qua việc đa dạng hoá nguồn cung, mở rộng mạng lưới các nhà cung cấp nhằm phân tán rủi ro, như đặt hàng mua nguyên vật liệu, linh kiện từ nhiều nhà cung ứng tại các nước khác nhau.

Trong thời gian tới, cạnh tranh tham gia chuỗi cung ứng sẽ diễn ra quyết liệt hơn, nhất là giữa các nước đang phát triển có sự tương đồng về thị trường, trình độ phát triển, công nghệ và lao động, như các nước Đông Nam Á, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Mexico.

Để đón nhận sự dịch chuyển chuỗi cung ứng, bên cạnh ổn định chính trị và ổn định vĩ mô, các quốc gia cần chuẩn bị cơ sở hạ tầng, đội ngũ lao động có trình độ, kỹ năng, dễ đào tạo đáp ứng nhu cầu tuyển dụng lao động của các công ty đa quốc gia khi dịch chuyển cơ sở sản xuất sang nước khác để tránh rủi ro từ chiến tranh thương mại.

Dự báo các xu thế phát triển trong 10 năm tới

Thế giới đang bước vào giai đoạn tái định hình dưới tác động của đại dịch Covid, các chuyển dịch địa-chính trị-chiến lược, địa-kinh tế sau xung đột Ucraina và những tiến bộ nhanh chóng của khoa học công nghệ, sẽ tạo ra những thay đổi to lớn, thậm chí mang tính bước ngoặt.

Dự báo trong 10 năm tới, tình hình thế giới và khu vực sẽ diễn biến nhanh, phức tạp với nhiều nhân tố khó dự báo, tác động đa chiếu tới môi trường an ninh, kinh tế của đất nước. Các thách thức nổi lên sẽ gay gắt hơn nhưng cũng xuất hiện những cơ hội mới.

Có thể dự đoán một số nét chính về tình hình kinh tế-chính trị trong khoảng 10 năm tới như sau:

  1. Cục diện thế giới sẽ biến đổi nhanh hơn theo hướng đa cực, đa trung tâm với sự thay đổi mạnh mẽ trong tương quan so sánh lực lượng.

Giai đoạn 10 năm tới sẽ quyết định nước nào là cường quốc số 1 thế giới. Mỹ có thể vẫn chiếm ưu thế nhưng khoảng cách giữa Mỹ và Trung Quốc đang nhanh chóng thu hẹp. Nga sẽ đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, sức mạnh tổng hợp suy giảm do tác động từ các biện pháp bao vây cấm vận toàn diện chưa từng có của Mỹ và đồng minh.

  1. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn nhưng sẽ đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn hơn.

Toàn cầu hóa chững lại, đang có những điều chỉnh dưới các tác động của các căng thẳng địa chính trị, địa chiến lược, sự chuyển dịch của các chuỗi sản xuất và cung ứng, các dòng vốn đầu tư và xu hướng tăng cường tự chủ chiến lược của các nước và sự phân tách giữa Mỹ và Trung Quốc, giữa Mỹ, châu Âu với Nga.

Đồng thời, dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và dịch chuyển tương quan sức mạnh giữa các quốc gia, toàn cầu hóa sẽ biến đổi lớn về nội dung và hình thức theo hướng gia tăng hàm lượng khoa học công nghệ và sáng tạo, cân bằng hơn giữa tự do hóa và nâng cao năng lực tự cường, bền vững và bao trùm hơn.

Xu hướng dân chủ hóa quan hệ quốc tế tiếp tục diễn ra với vai trò ngày càng lớn của các nước vừa và nhỏ; cùng với đó là xu hướng đề cao pháp quyền, luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, chi tiêu cho quốc phòng, thậm chí chạy đua vũ trang có xu hướng gia tăng. Chủ nghĩa dân tộc, cực đoan, chính trị, cường quyền và các hành động đơn phương sẽ vẫn tồn tại.

Các vấn đề xã hội trên thế giới như nghèo đói, thất nghiệp, khoảng cách giáu nghèo, bất bình đẳng xã hội, an ninh phúc lợi xã hội, sức khỏe, di cư, mâu thuẫn xã hội, mặt trái của toàn cầu hóa ngày càng nghiêm trọng

  1. Kinh tế thế giới bước vào giai đoạn phát triển mới nhưng tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro, thách thức, thậm chí khủng hoảng trong một số lĩnh vực.

Công nghệ số sẽ làm thay đổi căn bản cơ cấu sản kinh tế, phương thức sản xuất kinh doanh, năng suất lao động, sự vận hành của hệ thống tài chính, tiền tệ, thanh toán, đồng thời cũng tạo ra những phương tiện và phương thức mới về bảo đảm quốc phòng an ninh, triển khai đối ngoại. Các cơ hội và thách thức ngày càng đan xen, chuyển hóa lẫn nhau, phụ thuộc vào nội lực và khả năng tận dụng của từng quốc gia, từng chủ thể.

Trong ngắn hạn, kinh tế thế giới đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, rủi ro lớn, kể cả nguy cơ suy thoái, khủng hoảng dưới tác động tiêu cực của nhiều yếu tố cộng hưởng, nhất là cạnh tranh quyết liệt giữa các nước lớn, khó khăn tích tụ trong nhiều năm của kinh tế thế giới, các tác động nặng nề của đại dịch Covid và xung đột Nga-Ukraina.

Khuyến nghị chính sách cho Việt Nam

Là nền kinh tế có độ mở cao và phụ thuộc nhiều vào nhu cầu toàn cầu, đặc biệt với nhiều đối tác chủ chốt, như Mỹ, Nhật Bản, EU, Hàn Quốc và Trung Quốc…, Việt Nam cần theo dõi và nắm bắt những xu hướng, tình hình mới trong hội nhập kinh tế quốc tế để có những điều chỉnh chính sách phù hợp.

Trong bối cảnh hiện nay, cần tính đến những một số giải pháp chính sách như sau:

Một là, tập trung huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực bồi đắp nội lực của nền kinh tế, để có thể ứng phó hiệu quả với những chuyển dịch, biến động lớn của nền kinh tế toàn cầu.

Cùng với việc tận dụng giao thương để thúc đẩy tăng trưởng, tận dụng các lợi thế có được từ các FTA thế hệ mới, như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP),… cần củng cố nội lực bằng việc quyết liệt thực hiện cơ cấu lại kinh tế, phát triển đồng bộ các ngành kinh tế quan trọng gắn với thương mại xuất, nhập khẩu và khai thông thị trường nội địa.

Bên cạnh việc tiếp tục mở rộng và đa dạng hóa thị trường toàn cầu, cần tranh thủ những ngành công nghệ có thể đem lại hiệu quả, chất lượng cao; phát triển công nghiệp phụ trợ, chủ động nguồn lực từ trong nước thông qua thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đón đầu làn sóng dịch chuyển vốn FDI của các công ty đa quốc gia đến Việt Nam.

Tập trung cải thiện môi trường pháp lý, kinh doanh thuận lợi và minh bạch, loại bỏ những thủ tục gây chậm trễ, rườm rà để thu hút hơn nữa FDI từ các tập đoàn lớn ở châu Âu, ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc và Mỹ,…

Hai là, đẩy mạnh khai thác thị trường nội địa thông qua việc gắn kết chặt chẽ giữa phát triển vùng sản xuất nguyên liệu với công nghiệp chế biến và xuất khẩu.

Tập trung phát triển mạnh các vùng sản xuất, các khu công nghiệp, khu kinh tế để chủ động hơn nguồn cung ứng nguyên liệu trong nước; khuyến khích sản xuất linh kiện, sản phẩm trung gian thay thế nhập khẩu. Hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm nguồn cung thay thế thông qua việc tăng cường liên kết, tận dụng tối đa các thị trường mới mở ra từ các FTA thế hệ mới.

Xem xét, ưu tiên triển khai và hỗ trợ tối đa về nguồn lực đối với các dự án quan trọng liên quan đến các ngành công nghiệp năng lượng, giao thông, vận tải và công nghệ – thông tin, các loại hình kinh tế số, dịch vụ từ xa…

Ba là, tận dụng tối đa những lợi thế mà cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại cho tăng trưởng kinh tế.

Vì đổi mới công nghệ sẽ là động lực tăng trưởng kinh tế, mà biểu hiện rõ nét nhất ở sự gia tăng các hoạt động và ứng dụng chuyển đổi số, các loại hình kinh tế số, phát triển kinh tế nền tảng và các dịch vụ phi tiếp xúc truyền thống; đẩy mạnh xử lý trực tuyến dịch vụ công; phát triển các ứng dụng thương mại điện tử, ngân hàng số (digital banking)…

Tận dụng những cơ hội và tiềm năng vốn có của mình để có thể trở thành công xưởng sản xuất smartphone hoặc đồ gia dụng thông minh của thế giới. Điều này giúp Việt Nam tăng thêm mức độ ảnh hưởng trong chuỗi sản xuất của thế giới và cạnh tranh để trở thành nơi sản xuất chất lượng của các tập đoàn lớn trên thế giới.

Cần nhận diện các cơ hội đầu tư một cách thông minh, hướng tới phát triển bền vững, quyết không đánh đổi an ninh và môi trường để thu lợi nhuận, tăng trưởng kinh tế trong thời gian ngắn.

Bốn là, đối với xu hướng gia tăng bảo hộ thương mại, Việt Nam cần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm.

Tăng cường kiểm soát chất lượng, xuất xứ, chống gian lận thương mại và chủ động ứng phó với các tổ chức triển khai thực hiện các cam kết hội nhập quốc tế của Việt Nam, đặc biệt là cam kết trong các FTA đã ký kết nhằm bảo đảm cho quá trình hội nhập của Việt Nam một cách hiệu quả và bền vững hơn.

Năm là, chủ động hòa nhịp với xu hướng tái định hình chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trong xu hướng điều chỉnh và chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu, Việt Nam có một số lợi thế để tranh thủ sự dịch chuyển chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội và thuận lợi luôn đan xen với thách thức và khó khăn.

Thay lời kết

Để bắt kịp với sự thay đổi của chuỗi cung ứng toàn cầu, chúng ta cần điều chỉnh quy hoạch phát triển và chiến lược tổng thể về sản xuất kinh doanh của từng vùng, từng ngành, lĩnh vực.

Đồng thời Việt Nam cần xây dựng và thực hiện hiệu quả Chiến lược độc lập, tự chủ của nền kinh tế nhằm nâng cao sức chống chịu và khả năng cạnh tranh; thích ứng linh hoạt, hiệu quả với những biến động tình hình quốc tế, khu vực và trong nước;

Việt Nam cần chủ động hòa nhịp với xu hướng tái định hình và vận hành chuỗi cung ứng toàn cầu nhằm tận dụng các cơ hội, giảm thiểu rủi ro, xử lý những bất cập và thách thức đối với nền kinh tế.

Trịnh Minh Anh

Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế.