Hội nghị phát triển nguồn nhân lực quốc gia phục vụ công nghiệp bán dẫn

Chiều 24/4 tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã chủ trì Hội nghị phát triển nguồn nhân lực quốc gia phục vụ công nghiệp bán dẫn. Hội nghị góp ý Đề án “Phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến năm 2045” do Văn phòng Chính phủ phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư đồng tổ chức.

Hội nghị phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp bán dẫn diễn ra tại Hà Nội chiều 24/4 – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Cùng tham dự Hội nghị có Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà, Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng; Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP Trần Văn Sơn; Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Đào Ngọc Dung; Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng; Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Kim Sơn; Thứ trưởng Bộ Tài chính Lê Tấn Cận; Thứ trưởng Bộ Công an Nguyễn Duy Ngọc; Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Phạm Hoài Nam; Giám đốc Đại học Quốc gia TPHCM Vũ Hải Quân; Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội Phạm Bảo Sơn cùng đại diện lãnh đạo các bộ, ngành liên quan và lãnh đạo một số tỉnh, thành phố. Đại biểu doanh nghiệp công nghệ có: Chủ tịch Tập đoàn FPT Trương Gia Bình; Giám đốc Intel Việt Nam Phùng Việt Thắng; Giám đốc điều hành Google Vietnam Marc Woo; đại diện Công ty Cadence Trần Thúy Vy; Giám đốc điều hành Got It Hùng Trần,…

Mở chiến dịch đặc biệt đào tạo nhân lực ngành bán dẫn

Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu khai mạc Hội nghị – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ chuyển đổi số là yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược, ưu tiên hàng đầu trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội. Ngành công nghiệp bán dẫn có vai trò rất quan trọng, là nền tảng của 3 vấn đề chuyển đổi mang tính cách mạng: chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi thông minh.

Hiện nay, ngành công nghiệp bán dẫn trên thế giới phân bố và phát triển không đều, chỉ tập trung tại một số nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Châu Âu, Đài Loan (Trung Quốc).

Trong bối cảnh nhiều biến động trên thế giới hiện nay, vì nhiều lý do khác nhau, ngành công nghiệp bán dẫn đang có xu hướng đa dạng hóa, chuyển dịch chuỗi liên kết, nghiên cứu, sản xuất, cung ứng sang các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam.

Đây là cơ hội rộng mở và cũng là thách thức to lớn đối với Việt Nam, đòi hỏi phải có hạ tầng công nghệ, thể chế chính sách và nguồn nhân lực cao cấp phù hợp để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số, nhất là thu hút đầu tư vốn và tri thức công nghệ nước ngoài vào ngành công nghiệp bán dẫn.

Theo Thủ tướng, nhân lực là một trong những yếu tố được các đối tác trông chờ ở Việt Nam. Nếu chuẩn bị tốt nguồn nhân lực thì Việt Nam sẽ nhận được tin tưởng của các đối tác, xúc tiến thu hút đầu tư, phát triển chuỗi sản xuất và cung ứng bán dẫn.

Từ cuối năm 2023, Chính phủ đã giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Đề án “Phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến năm 2045″, với mục tiêu đào tạo từ 50 đến 100 nghìn kỹ sư bán dẫn.

Thủ tướng cho biết, hội nghị được tổ chức nhằm lắng nghe các ý kiến đóng góp của các đại biểu để đạt mục tiêu nói trên trong thời gian ngắn nhất có thể. Gợi ý về cách làm, Thủ tướng cho rằng vừa cần giải pháp tiệm tiến, vừa cần các giải pháp đột phá.

Về cách làm tiệm tiến, Thủ tướng cho rằng trên nền tảng phát triển công nghiệp điện tử, công nghệ thông tin đã có, Việt Nam có thể dịch chuyển chương trình đào tạo nhân lực công nghệ thông tin, điện tử sang lĩnh vực bán dẫn. Cùng với đó, hình thành thêm một số khoa tại các cơ sở đào tạo, một số phòng ban tại các đơn vị nghiên cứu; tận dụng tối đa cơ sở vật chất đã có và xây dựng thêm cơ sở mới.

Thủ tướng đề nghị các đại biểu góp ý về những công việc cần triển khai của các cơ sở đào tạo, nghiên cứu, các bộ ngành, cơ quan quản lý nhà nước, Chính phủ và các địa phương, …”để mở chiến dịch đào tạo nhân lực ngành bán dẫn trên cơ sở tận dụng cơ sở vật chất, nguồn lực hiện có, điều chỉnh phù hợp để đạt mục tiêu đề ra nhưng không xáo trộn quá nhiều”.

Thủ tướng cũng đề nghị các đại biểu phát biểu góp ý thêm về các giải pháp mang tính đột phá để đẩy mạnh hoạt động đào tạo nhân lực ngành bán dẫn.

Dự kiến Thủ tướng Chính phủ sẽ ban hành kết luận sau hội nghị để các bộ ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức thực hiện đạt hiệu quả cao.

Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng trao đổi về Đề án “Phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến năm 2045” – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Trao đổi về Đề án “Phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến năm 2045” tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng đề xuất 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp thực hiện.

  • Một là đào tạo giảng viên, sinh viên hệ chính quy; đào tạo nhân lực trình độ sau đại học; đào tạo hệ ngắn hạn, chuyển tiếp; khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp cùng tham gia đào tạo nhân lực;
  • Hai là đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và phát triển
  • Ba là đầu tư cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ phục vụ đào tạo;
  • Bốn là thu hút chuyên gia, nhân tài công nghệ;
  • Năm là tạo đầu ra cho nguồn nhân lực, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp công nghệ;
  • Sáu là xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù cho đào tạo và phát triển nguồn nhân lực công nghiệp bán dẫn;
  • Bảy là xác định các giải pháp về hợp tác quốc tế, truyền thông và hỗ trợ triển khai Đề án.

Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng: Khi làm Chiến lược quốc gia về ngành công nghiệp bán dẫn của Việt Nam, chúng tôi có đánh giá về lợi thế so sánh của Việt Nam.

  • Thứ nhất là lợi thế địa chính trị liên quan đến ngành công nghiệp bán dẫn. Nếu như lấy Việt Nam làm tâm quay vòng tròn thì sẽ gồm 80% ngành công nghiệp bán dẫn thế giới. Nghĩa là Việt Nam là trung tâm toàn cầu.
  • Thứ hai, Việt Nam có lợi thế là người Việt Nam có gene về khoa học công nghệ. Lợi thế này không kém gì lợi thế về địa chính trị.
  • Thứ ba, thế giới đang cơ cấu lại ngành công nghiệp bán dẫn theo hướng (X+1), tức là toàn bộ ngành công nghiệp bán dẫn chứ không chỉ là sản xuất. Kể cả nghiên cứu phát triển thì cũng đặt vấn đề X+1 tức là nhân lực và nghiên cứu bán dẫn. Hiện Mỹ cũng có nhu cầu thêm nguồn nhân lực thiết kế, sản xuất chip từ các quốc gia khác và Việt Nam là một trong số ít quốc gia này. Thế giới đang thiếu nguồn nhân lực về công nghiệp bán dẫn; sự thiếu hụt này trên phạm vi toàn cầu nhưng là trong thời gian ngắn hạn, không phải dài hạn.
  • Thứ tư, Việt Nam là nước đứng thứ hai trên thế giới về trữ lượng đất hiếm phục vụ cho ngành công nghiệp bán dẫn, sau Trung Quốc, bằng nửa Trung Quốc. Việt Nam cũng là một trong số ít nước có 20 năm hình thành công nghiệp bán dẫn, đã có những nền tảng bước đầu, có thiết kế, có lắp ráp, casting với khoảng trên 6.000 kỹ sư hoạt động trong lĩnh vực này.

Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng phát biểu tại Hội nghị

Nhiều thách thức hình thành một số quan điểm chính về ngành bán dẫn của Việt Nam như sau:

  • Thứ nhất, Phát triển ngành công nghiệp bán dẫn Việt Nam phải có lộ trình gần 26 năm, chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn từ nay đến năm 2030; giai đoạn 2030-2040 và giai đoạn 2040-2050. Trong lộ trình 26 năm này, công nghiệp bán dẫn Việt Nam không chỉ làm một vài công đoạn mà sẽ tự chủ đầy đủ các công đoạn của ngành bán dẫn và Việt Nam là thị trường chủ lực trong lĩnh vực này.
  • Thứ hai, Phát triển công nghiệp bán dẫn song hành cùng phát triển công nghiệp điện tử và công nghiệp chuyển đổi số. Chip bán dẫn là đầu vào của ngành công nghiệp điện tử, ai làm chủ thị trường thiết bị điện tử thì mới thực sự làm chủ ngành công nghiệp bán dẫn. Tất cả quốc gia trong khu vực như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc thành công về ngành công nghiệp bán dẫn đều có ngành công nghiệp điện tử phát triển. Một nghiên cứu gần đây cho thấy, không có bất kỳ quốc gia nào “hóa rồng”, “hóa hổ” mà không có ngành công nghiệp điện tử phát triển và gần đây còn xuất hiện khái niệm về ngành công nghiệp chuyển đổi số. Nếu chúng ta chỉ làm chip bán dẫn thì sẽ phụ thuộc vào đầu ra, phụ thuộc vào người mua, chính là các doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện tử.
  • Thứ ba, trước mắt xây dựng Việt Nam thành tháp nhân lực toàn cầu về ngành công nghiệp bán dẫn từ nay đến năm 2030, từ tháp nhân lực này tiến tới phát triển ngành công nghiệp bán dẫn Việt Nam. Tháp nhân lực này sẽ là nam châm thu hút các doanh nghiệp công nghệ nước ngoài đầu tư vào Việt Nam để xây dựng trung tâm nghiên cứu, nhà máy sản xuất chíp bán dẫn.

Khả năng đáp ứng các nhu cầu trước mắt về nhân lực chủ yếu là đi vào mảng đào tạo lại và đào tạo trực tiếp trong ngắn hạn. Các nước khác muốn đào tạo một kỹ sư điện tử về công nghiệp bán dẫn phải đào tạo lại khoảng 2 năm, nhưng Việt Nam chỉ cần từ 3 đến 6 tháng hoặc 12 tháng.

Ngoài ra, nhân lực cũng được xác định là “lõi” để xây dựng ngành công nghiệp bán dẫn. Phải có thỏa thuận quốc gia cung cấp nguồn nhân lực mới bảo đảm thành công đề án nhân lực. Đào tạo nhân lực cũng phải dựa trên tín hiệu thị trường, đặc biệt cần có các thỏa thuận doanh nghiệp và thảo thuận của các quốc gia.

  • Thứ tư là sự kết hợp giữa FDI và tự lực. Việt Nam đang tiến tới tự lực trong dài hạn, vẫn thu hút đầu tư nước ngoài vào các công đoạn của công nghiêp bán dẫn, kể cả sản xuất. Việt Nam đang làm tốt FDI những chưa đủ sức tự lực nên chúng ta cần đi đều cả hai chân.
  • Thứ năm là xây dựng hệ sinh thái về công nghiệp bán dẫn. Nếu chúng ta không phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ về chip bán dẫn hay không tạo điều kiện cho họ “ngốn” nguồn nhân lực được đào tạo thì đề án về nguồn nhân lực cũng sẽ gặp khó khăn trong việc thực hiện. Do đó cần phát triển công nghiệp bán dẫn trong hệ sinh thái quốc gia, trong ngắn hạn có thể trong hệ sinh thái với một số quốc gia.

Hiện nay, đang có chiến dịch chạy đua toàn cầu về thu hút FDI. Chúng ta nên lấy lợi thế địa chính trị, nhân lực, hạ tầng là chính để tạo ra sức cạnh tranh của mình.

Ngoài ra, ngành công nghiệp bán dẫn cần một yếu tố nữa là kết hợp với thị trường. Công nghiệp bán dẫn là ngành công nghiệp liên quan đến vấn đề trọng yếu quốc gia nên vai trò dẫn dắt của Nhà nước là quan trọng. Trong Chiến lược cũng cần nhấn mạnh vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ như vai trò của doanh nghiệp lớn để bảo đảm tính linh hoạt trong quá trình phát triển ngành công nghiệp bán dẫn.

PGS.TS. Vũ Hải Quân – Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

PGS.TS. Vũ Hải Quân – Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh: Hiện nay, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh mỗi năm tuyển sinh khoảng trên dưới 6.000 sinh viên nhóm ngành liên quan đến công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo (bao gồm cả đào tạo đại học và tiến sĩ), điện tử viễn thông,… tập trung ở 4 trường đại học trọng điểm: Trường Đại học Bách khoa, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Trường Đại học Công nghệ Thông tin, Trường Đại học Quốc tế. Điểm chuẩn đầu vào Tiếng Anh rất cao, nhóm công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo luôn ở top đầu, vượt cả nhóm y, dược.

Chương trình đào tạo của Đại học Quốc gia được thế giới xếp hạng. Hiện có 8 chương trình trong top 500 thế giới, các nhóm ngành về công nghệ thông tin, điện tử viễn thông đều nằm trong top 400 – 450.

Kết quả đào tạo được các doanh nghiệp đánh giá cao. Thống kê từ tập đoàn Synopsys là tập đoàn thiết kế vi mạch, hiện nay 54% kỹ sư vi mạch tốt nghiệp từ Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Nếu các công ty tập trung ở Thành phố Hồ Chí Minh thì Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp trên dưới 70-80%.

Riêng ngành thiết kế vi mạch, hiện nay Đại học Quốc gia chưa có chuyên ngành, mới chỉ gắn chọn điện tử viễn thông trong công nghệ thông tin chứ chưa có chuyên ngành riêng về thiết kế vi mạch. Tuy nhiên, những thành tựu đạt được về đào tạo thiết kế vi mạch cũng rất đáng kể.

Về đề án này, tôi là một trong các thành viên tham gia và đã cụ thể hóa thành những chiến lược đào tạo ngành công nghệ bán dẫn của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại học Quốc gia TPHCM đã hoàn thành chiến lược trong ba ngành trọng tâm: Công nghệ bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và công nghệ sinh học.

Riêng đối với ngành bán dẫn, chúng tôi đặt mục tiêu: Thứ nhất, từ giờ đến năm 2030, đào tạo 1.800 kỹ sư, chiếm 12% so với tổng số kỹ sư mà Đề án đưa ra. Chúng tôi mong muốn đào tạo chuyển đổi được khoảng 15.000 cử nhân có bằng cấp muốn chuyển qua hoạt động trong một công đoạn nào đó của ngành công nghệ bán dẫn, bao gồm cả đóng gói. Chúng tôi cũng mong muốn đào tạo được khoảng 500 thạc sĩ, tiến sĩ.

Chúng tôi nhận thấy có 5 thách thức chính trong quá trình đào tạo nhân lực vi mạch bán dẫn:

  • Thứ nhất là nguồn tuyển. Hiện nay các em sinh viên vẫn còn mơ hồ về ngành thiết kế vi mạch nói riêng và công nghệ bán dẫn nói chung.
  • Thứ hai là đội ngũ đảm nhận. Ngay cả Đại học Quốc gia quy mô lớn như vậy nhưng giảng viên tốt nghiệp chuyên ngành về bán dẫn là tiến sĩ chỉ đếm trên đầu ngón tay
  • Thứ ba là chương trình đào tạo đổi mới và thay đổi liên tục.
  • Thứ tư là chỗ thực tập, thực hành cho sinh viên. Học ngành này, ngoài những lý thuyết trên lớp sinh viên viên còn phải thực tập, thực hành thì mới có thể bắt tay vào làm việc được.
  • Thứ năm là các nghiên cứu về đổi mới sáng tạo và về startup.

Đây là 5 thách thức trong quá trình xây dựng chiến lược phát triển ngành vi mạch của Đại học Quốc gia gặp phải. Cùng với các thành viên trong nhóm xây dựng Đề án, chúng tôi đã bàn bạc và đưa ra một số giải pháp để vượt qua những thách thức này.

Trong đề án có nói đến việc đào tạo 1.300 giảng viên. Đây là điều Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh có thể chủ động được, kể cả hợp tác quốc tế, nhập khẩu các chương trình đào tạo của nước ngoài.

Một vấn đề nữa là đẩy nhanh “phòng thí nghiệm dùng chung”. Nếu chúng ta chỉ ưu tiên về công nghệ vi mạch thôi thì rất dễ, nhưng đây là phòng thí nghiệm liên ngành về stem, bao gồm từ vật lý, hóa học, công nghệ vật liệu cho tới điện tử viễn thông, vi mạch, bán dẫn. Nếu có được một phòng thí nghiệm hiện đại dùng chung như vậy thì phục vụ cho không phải đào đạo về bán dẫn mà cho tất cả các kỹ sư nhóm ngành khác có liên quan. Chúng tôi đã chủ động qua Đại học Quốc gia Seoul để học tập mô hình về phòng thí nghiệm này. Đại học Quốc gia Seoul có Inter-university Center. Đây là một mô hình rất hay. Chính Chủ tịch Samsung cũng đã từng tốt nghiệp ở trường này.

Cơ chế “phòng thí nghiệm dùng chung” phải có tính chất vượt trội. Giả sử Đại học Quốc gia TPHCM là chủ đầu tư phòng thí nghiệm đó và các trường đại học trong khu vực Thành phố Hồ Chí Minh tham gia sử dụng chung. Thế thì nguồn vốn cho phòng thí nghiệm đó đến từ đâu? Cơ chế tài chính, cơ chế chia sẻ nguồn lực dùng chung như thế nào?

Hay như cơ chế đột phá về đào tạo giáo viên. Hiện nay, việc mở ngành vi mạch, nếu chiếu theo quy định bình thường thì phải có đủ tiến sĩ, đủ giáo sư theo một số lượng nhất định mới được mở và tính quota đào tạo trên số lượng giảng viên mình có. Nhưng đây là một ngành học hoàn toàn mới, số lượng tiến sĩ đếm trên đầu ngón tay. Nếu đối chiếu theo quy định hiện hành thì cũng không thể mở ngành, hoặc nếu có mở ngành thì cũng chỉ tuyển dụng ở quy mô rất nhỏ.

Tôi mong muốn thông qua đề án này, chúng ta có được những cơ chế chính sách vượt trội, để có thể tham gia đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về vi mạch bán dẫn.

Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội Phạm Bảo Sơn – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội Phạm Bảo Sơn: Về đào tạo nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn, có hai hướng. Một là đào tại ngắn hạn chuyển đổi sang lĩnh vực này; hai là phải có sự dài hơi dựa trên lĩnh vực chúng ta đang đầu tư từ nhiều năm nay.

Chúng ta đã có hơn 20 năm kinh nghiệm về đào tạo và nghiên cứu trong lĩnh vực liên quan đến ngành công nghiệp bán dẫn.

  • Một là thời gian qua, Đại học Quốc gia Hà Nội cũng đã đào tạo và có nhiều hoạt động nghiên cứu trong lĩnh vực này.

Hiện nay, Trường đang cung cấp nguồn nhân lực khoảng hơn 3.000 sinh viên mỗi năm trong các lĩnh vực liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến lĩnh vực này. Trường cũng có hệ thống phòng thí nghiệm, tuy nhiên những phòng thí nghiệm này chưa tích hợp được các công đoạn của công nghiệp bán dẫn.

Ngoài ra, Đại học Quốc gia Hà Nội cũng có nhiều hoạt động để triển khai Đề án mà Đại học Quốc gia Hà Nội tham gia cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, như xây dựng các chương trình đào tạo do doanh nghiệp đặt hàng, như Công ty Samsung Electronics đã làm việc với Trường Đại học Công nghệ-Đại học Quốc gia Hà Nội thống nhất từ năm tới sẽ tuyển sinh chương trình thạc sĩ trong ngành vi mạch bán dẫn.

  • Thứ hai là Trường đã triển khai các chương trình đào tạo ngắn hạn cho doanh nghiệp.
  • Thứ ba là nhận thức của sinh viên. Trường và các đơn vị thành viên cũng liên tục tổ chức các hội chợ việc làm dành riêng cho lĩnh vực công nghiệp bán dẫn, có sự quan tâm tham gia của nhiều doanh nghiệp quốc tế.
  • Thứ tư, Trường đã phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng chương trình nghiên cứu cấp bộ và triển khai trong năm nay.
  • Thứ năm là Trường đẩy mạnh hợp tác quốc tế với các trường đại học quốc tế trong lĩnh vực bán dẫn.

Về các giải pháp trong đào tạo nguồn nhân lực, tôi xin nhấn mạnh 3 nhóm vấn đề lớn:

  • Thứ nhất, đội ngũ giảng viên là vấn đề quan trọng. Chúng ta đã đặt ra mục tiêu đào tạo các chuyên gia, nhưng sẽ có 2 nhóm chuyên gia, nhóm có thể giảng dạy được và nhóm chuyên gia đầu ngành. Điều này cần sự định hướng dài hơi bởi phải gắn với các chương trình nghiên cứu, gắn với chương trình đào tạo dài hạn.

Ngoài ra, chúng ta cần có cơ chế không chỉ là bồi dưỡng mà phải thu hút được các chuyên gia.

  • Thứ hai, hệ thống trang thiết bị, phòng thí nghiệm cũng rất quan trọng, Trường cũng đã đề xuất Dự án Trung tâm hỗ trợ thiết kế, chế tạo và đo kiểm vi mạch quốc gia đặt tại Đại học Quốc gia Hà Nội, tích hợp với các giai đoạn của công nghiệp bán dẫn, đã gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Điểm đặc biệt của Trung tâm là cơ chế hợp tác công – tư để hợp tác với các doanh nghiệp, chia sẻ cơ sở vật chất giữa các trường đại học và viện nghiên cứu.

  • Cuối cùng là thu hút các sinh viên giỏi tham gia trong lĩnh vực này.

Giám đốc ĐH Bách khoa Hà Nội Huỳnh Quyết Thắng phát biểu tại Hội nghị – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Ông Huỳnh Quyết Thắng, Giám đốc ĐH Bách khoa Hà Nội: Những cơ hội và thách thức của 2 ĐH Quốc gia TPHCM và ĐH Quốc gia Hà Nội cũng là những cơ hội, thách thức của ĐH Bách khoa Hà Nội.

Hiện tại Đại học Bách khoa Hà Nội đào tạo chính thức khoảng 3.500 sinh viên các ngành gần, khoảng 150 sinh viên đúng các ngành liên quan đến thiết kế vi mạch, vi điện tử công nghệ nano. Số lượng này sẽ tăng lên trong thời gian tới.

Theo dự kiến, đến năm 2030, trường có thể đào tạo được từ 1.000 đến 1.200 kỹ sư các ngành vi mạch bán dẫn và chuyển đổi khoảng 6.500 kỹ sư từ các ngành gần. Như vậy, chúng tôi kỳ vọng các trường đại học sẽ đào tạo đáp ứng nhu cầu như trong Đề án đề ra.

Có một điều đặc biệt tại ĐH Bách khoa Hà Nội là trong số 2 chương trình đào tạo đúng và 7 chương trình đào tạo gần, có tới 2/3 chương trình là Trường đào tạo hoàn toàn bằng tiếng Anh. Đề án này chưa nhắc tới nội dung tiếng Anh và điều này rất quan trọng. 9 chương trình đào tạo của trường đều đã được kiểm định và xếp hạng, tầm 400-500 của châu Á và thế giới.

Thời gian qua, Chính phủ, Bộ GD&ĐT, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có quyết tâm rất lớn. Đã có 2 tổ công tác, trong đó có 1 tổ công tác do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chỉ đạo, 1 tổ của Bộ GD&ĐT do Bộ trưởng và Thứ trưởng chỉ đạo. Các tổ đều rất quyết liệt và xây dựng trung tâm đào tạo liên quan đến công nghiệp bán dẫn. ĐH Bách khoa Hà Nội cũng có đại diện tham gia các tổ công tác này.

Đào tạo học viên, giảng viên rất cần thiết. ĐH Bách khoa Hà Nội đã xây dựng một đề án thu hút nguồn nhân lực cao ở tất cả các lĩnh vực. Dự kiến, đến năm 2030, chúng tôi sẽ quyết tâm thu hút nhân tài để đào tạo trở thành giảng viên. Vì vậy, việc thu hút nhân lực cao để trở thành các giảng viên xuất sắc rất cần thiết.

Hiện nay, ĐH Bách khoa Hà Nội đã có cơ chế riêng để thu hút nhân tài. Vừa qua, trường đã tuyển dụng được 2-3 phó giáo sư xuất sắc ở nước ngoài quay trở về Việt Nam làm việc. Đây cũng là giải pháp để giải bài toán thiếu nguồn nhân lực hiện nay. Họ sẽ là nguồn lực để phát triển các phòng thí nghiệm nghiên cứu, họ cũng sẽ là những chuyên gia chủ lực chia sẻ kinh nghiệm và chúng ta có thể đào tạo lại nguồn giảng viên.

Hai nội dung khác cũng rất quan trọng:

Thứ nhất là việc thu hút sinh viên giỏi phải có sân chơi và đầu ra cho các em, tức là các em phải có sản phẩm của chính mình để đưa vào thực tế.

Thu hút sinh viên giỏi là đầu vào thì còn đầu ra đi đâu? Vì vậy, chúng ta cần phải có những thiết kế, sản phẩm của các em sinh viên trong các trung tâm đổi mới sáng tạo để những sản phẩm mới có thể phát triển thành những hệ thống thông minh, những hạ tầng thông minh, từ đó có thể hình thành các doanh nghiệp.

Phát triển ngành công nghiệp bán dẫn là chủ chốt, mũi nhọn, nhưng kèm theo đó là cả một hệ thống các ngành công nghiệp phụ trợ đi cùng. Các ngành này sẽ từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các doanh nghiệp này sẽ xuất phát điểm đổi mới sáng tạo của các em sinh viên. ĐH Bách khoa đang tiếp cận vấn đề theo hướng này.

Phải tạo sân chơi cho sinh viên để tạo ra các sản phẩm, bên cạnh việc đào tạo nguồn nhân lực, phục vụ cho các doanh nghiệp. Đây cũng là định hướng chúng ta cần phải suy nghĩ.

Thứ hai, đây là lĩnh vực cần đầu tư lớn. Vì vậy để tránh đầu tư chồng chéo, lãng phí, chúng ta không chỉ coi trọng việc hình thành các trung tâm nghiên cứu lớn. Vì nếu chúng ta quay trở lại bài toán chỉ đào tạo nhân lực mà không xây dựng hoàn chỉnh các trung tâm nghiên cứu thì sẽ không có sân chơi cho sinh viên và chúng ta mãi mãi là đi theo sau các nước trong khu vực.

Vì vậy cần có sự đầu tư, kết hợp các trung tâm lại với nhau để hình thành các phòng thí nghiệm đạt đẳng cấp, cần sự tư duy của các chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài và trên thế giới để hình thành các trung tâm nghiên cứu lớn. Từ đó chúng ta mới kỳ vọng mức độ khoa học, nghiên cứu của Việt Nam đạt chuẩn để hình thành các sản phẩm cũng như các doanh nghiệp phục vụ việc phát triển đất nước.

Cuối cùng, thị trường là vấn đề rất quan trọng. Chúng ta có tạo được thị trường của các doanh nghiệp lớn để phục vụ nhu cầu của các kỹ sư bán dẫn hay không và muốn có thị trường đó thì cần phải có sự chung sức của các doanh nghiệp, các bộ, ngành tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về chính sách và sự sẵn sàng của trường đại học để đào tạo nguồn nhân lực cao.

Đầu ra của chúng tôi là sinh viên, cũng chính là đầu vào của thị trường. Có thị trường là con người thì sẽ có thị trường là các sản phẩm kèm theo.

Ông Phùng Việt Thắng, Giám đốc Quốc gia Intel tại Việt Nam phát biểu – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Ông Phùng Việt Thắng, Giám đốc Quốc gia Intel tại Việt Nam: Theo chúng tôi thì đây là cơ hội rất lớn đối với tất cả các quốc gia quan tâm đến việc phát triển ngành công nghiệp bán dẫn. Ở các quốc gia đã phát triển công nghiệp bán dẫn, nhất là các công ty toàn cầu như Intel, đang có những nhu cầu mới cần thay đổi và việc vẽ lại vị trí trên bản đồ thế giới về bán dẫn là cơ hội đặc biệt. Để làm được điều đó thì Việt Nam cần có chiến lược rất bài bản, sâu sát nhưng đồng thời chúng ta lại không có nhiều thời gian. Vì vậy, chiến lược phải có những kế hoạch rất nhanh, cụ thể. Chiến lược này liên quan đến rất nhiều góc độ từ đầu tư, nguồn nhân lực, hạ tầng công nghệ,…

Trong ngành công nghiệp bán dẫn, có nhiều công đoạn khác nhau và mỗi một công đoạn yêu cầu nguồn nhân lực khác nhau. Chính vì thế dù chúng ta dù có một chiến lược chung để phát triển nguồn nhân lực công nghiệp bán dẫn đi chăng nữa thì cũng cần có kế hoạch hành động riêng và đặc thù cho mỗi đối tượng nhân lực mà chúng ta cần phát triển, phù hợp với thế mạnh của Việt Nam.

Như các bộ trưởng đã chia sẻ, có vẻ như chúng ta sẽ có lợi thế khi đi vào những công đoạn bán dẫn không đầu tư quá nhiều về tài chính mà đầu tư về con người thì sẽ phù hợp hơn. Chính vì thế nên có vẻ chúng ta đang tập trung vào nguồn lực làm việc ở trong ba lĩnh vực: Một là thiết kế bán dẫn thì có vẻ số lượng sẽ đông; thứ hai là nguồn lực làm việc trong những nhà máy sản xuất bán dẫn, thì nguồn lực này quá đặc thù và chắc sẽ không thể đông được; thứ ba là nguồn lực trong các nhà máy kiểm thử thì có thể nhiều hơn một chút nhưng cũng không đông. Vậy số lượng khác nhau và chất lượng yêu cầu cũng khác nhau, cho nên kế hoạch thực hiện cũng phải khác nhau.

Về nguồn nhân lực nói chung của Việt Nam, có thể nói nhìn một cách vô cùng tích cực là tính sẵn sàng rất cao, từ những ngành đào tạo gián tiếp, đào tạo cơ bản hay đào tạo trực tiếp. Nhưng tôi xin lưu ý là mặc dù tính sẵn sàng cao nhưng để làm việc được độc lập thì chúng ta có khoảng cách không nhỏ và những chính sách bàn bạc hôm nay cần xây được những cầu nối giữa sự sẵn sàng đó với sự chấp nhận của ngành công nghiệp bán dẫn thì chắc chắn chiến lược của Việt Nam sẽ thành công.

Nhân đây, tôi xin chia sẻ một vài góc nhìn về cầu nối đó sẽ như thế nào: Thứ nhất là các cơ sở đào tạo. Chúng ta đã nói rất nhiều về đào tạo người làm nhưng nếu không đào tạo người giảng dạy, giáo viên hướng dẫn thì sẽ không thể đào tạo ra được những sinh viên giỏi. Tuy nhiên đào tạo như vậy chưa đủ mà cần sự thực hành. Hơn nữa, đối với kỹ sư trong ngành bán dẫn, cần có năng lực đầy đủ để đào tạo ra một kỹ sư bán dẫn giỏi mà năng lực đó được xây dựng trong quá trình làm việc. Để chuẩn bị cho quá trình đấy một cách sẵn sàng, kỹ sư cần phải có những kỹ năng mềm, kỹ năng mềm của kỹ sư chứ không phải kỹ năng mềm nói chung. Vậy kỹ sư cần phải có những kỹ năng mềm gì? Ví dụ như kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng sáng tạo… những cái đó ở trường đại học cần phải tập trung hơn làm tốt hơn.

Một điểm cần lưu ý là địa điểm kết hợp giữa các trường đại học với các trung tâm nghiên cứu của các doanh nghiệp thay vì đặt ở doanh nghiệp, đặt ở đâu đó. Chúng ta có thể đặt gần trường đại học.

Về phòng lab, có rất nhiều mức độ phòng lab khác nhau, có thể là quy mô quốc gia, cũng có thể là quy mô trường đại học, nhưng điều đặc biệt ở đây là cơ chế sử dụng phòng lab một cách có hiệu quả là điều vô cùng quan trọng. Điều này liên quan đến sự hợp tác đầu tư công – tư cùng sự hỗ trợ của các doanh nghiệp hàng đầu quốc gia. Đây là bài toán chung cần giải quyết.

Về hợp tác công – tư, chúng ta hay nói sự hợp tác công – tư giữa Chính phủ và các doanh nghiệp nhưng ở đây trong Chiến lược quốc gia về lĩnh vực bán dẫn thì còn có góc độ quan trọng nữa là sự hợp tác giữa các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp toàn cầu ở nước ngoài.

Quá trình hợp tác giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp sẽ tự động có các cơ chế về thương mại cũng như thúc đẩy chuyển giao công nghệ và qua đó sẽ có nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu công nghệ mới. Một điểm nữa xin bổ sung thêm ý kiến của trường đại học là về profile, chế tạo mẫu. Việc này đặc biệt quan trọng. Nếu không có chế tạo mẫu để thử xem mình làm đúng đến đâu, sai ở đâu thì không bao giờ thành công và đặc biệt là nếu có cơ chế hỗ trợ chế tạo mẫu thì sẽ tạo ra được sản phẩm có khả năng thương mại hóa cao hơn. Muốn có các sản phẩm mẫu thành công, cần phải có cơ chế khuyến khích thị trường chấp nhận sản phẩm đó.

Ngoài ra, bán dẫn và IA là hai lĩnh vực không tách rời nhau và nếu chúng ta có chính sách phát triển công nghiệp bán dẫn thì cũng cần có chính sách cụ thể để phát triển IA đi cùng. Các doanh nghiệp Việt Nam có thể phát triển và đi trước về bán dẫn, cho nên đây cũng là một lực kéo rất là tốt cho IA phát triển.

Cuối cùng, nguồn nhân lực ở nước ngoài vô cùng quan trọng, có thể giúp chúng ta vừa đảm bảo chất lượng đã được kiểm chứng ở trên thị trường toàn cầu đồng thời cũng rút ngắn được thời gian để chúng ta có thể bắt kịp được năng lực của ngành công nghiệp bán dẫn toàn cầu và phục vụ cho nhu cầu trong nước. Vì vậy, cần phải có chính sách để thu hút nguồn nhân lực nhập khẩu này.

Ông Marc Woo – Giám đốc điều hành Google Việt Nam phát biểu tại Hội nghị – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Giám đốc điều hành Google Việt Nam: Với tư cách là Giám đốc điều hành của Google tại Việt Nam, tôi đã được tận mắt chứng kiến tinh thần đổi mới sáng tạo tuyệt vời của Việt Nam. Trí tuệ nhân tạo AI là một trong những lĩnh vực ưu tiên nhất của sự đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ. Là một đơn vị lãnh đạo tư tưởng trong việc phát triển trí tuệ nhân tạo, Google nhận thấy được tiềm năng to lớn của trí tuệ nhân tạo đối với đất nước này.

Trong chuyến thăm lần này của lãnh đạo Google, chúng tôi rất tin tưởng vào tương lai của Việt Nam và Google đã và đang đầu tư vào thị trường này, bao gồm cả đầu tư vào các chương trình nâng cao kỹ năng số cho người dân Việt Nam. Hiện nay, chúng ta đang mở rộng những nỗ lực này và đặc biệt tập trung vào những chương trình trí tuệ nhân tạo.

Tôi cũng xin đề xuất một số ý tưởng.

Theo tôi, đầu tiên, việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng công nghệ là rất quan trọng để thúc đẩy sự phát triển trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam. Ví dụ như với những thị trường mới nổi, rất cần cơ sở hạ tầng phù hợp để phát triển tài năng trí tuệ nhân tạo. Họ cần được tiếp cận với điện toán đám mây. Chính việc thúc đẩy các luồng dữ liệu xuyên biên giới đáng tin cậy cũng sẽ bảo đảm cho việc chia sẻ các bộ dữ liệu, thông tin và chuyên môn cần thiết để nuôi dưỡng tài năng trí tuệ của Việt Nam.

Thứ hai không kém phần quan trọng là kế hoạch nâng cao kỹ năng trí tuệ nhân tạo thật mạnh mẽ. Các nền kinh tế được hỗ trợ bởi trí tuệ nhân tạo yêu cầu phải có một lực lượng lao động thông thạo về trí tuệ nhân tạo.

Tôi xin đưa ra một số ví dụ về cam kết của Google đối với thị trường Việt Nam như gần đây chúng tôi đã có chương trình cung cấp 40.000 suất học bổng Chứng chỉ nghề nghiệp của Google về trí tuệ nhân tạo trên khắp Việt Nam. Chương trình này sẽ trang bị cho người lao động những kỹ năng cần thiết để họ có thể phát triển bản thân trong thị trường việc làm về trí tuệ nhân tạo.

Chúng tôi cũng cung cấp những tài nguyên về trí tuệ nhân tạo dựa trên điện toán đám mây của Google cho các sinh viên và các lập trình viên, vì chúng tôi thấy rằng việc cung cấp như vậy sẽ mang lại những kết quả nghề nghiệp cho người học ở Việt Nam.

Ngoài ra, chúng tôi cũng rất vui mừng được đưa ra chương trình đào tạo bởi các chuyên gia và cố vấn trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo của Google cho sinh viên và các lập trình viên về vấn đề cung cấp tín dụng và điện toán đám mây, quyền truy cập vào tài nguyên trí tuệ nhân tạo của Google như GPU, Vertex Al, Gemini để họ có thể phát triển và thử nghiệm nhanh chóng các sản phẩm trí tuệ nhân tạo.

Chúng tôi mong muốn được hợp tác với các bộ, ngành, các cơ quan của Chính phủ Việt Nam để tiếp tục làm việc và phát triển thị trường trí tuệ tại Việt Nam.

Chúng tôi cho rằng Chính phủ nên ban hành những chính sách mang tính hỗ trợ để thúc đẩy thành lập một hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo mạnh mẽ, bao gồm những chính sách về ưu tiên điện toán đám mây.

Bà Trần Thúy Vy, đại diện Công ty Cadence – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Bà Trần Thúy Vy, đại diện Công ty Cadence: Là đơn vị đứng đầu trong việc phát triển và cung cấp các giải pháp phần mềm cho các công đoạn của quy trình thiết kế, Cadence đã và đang đồng hành với Chính phủ Việt Nam thông qua Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia và Khu công nghệ cao TPHCM.

Thứ nhất, đối với Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, Cadence đã hỗ trợ toàn bộ bản quyền phần mềm cho tất cả các quy trình thiết kế vi mạch và tất cả các bộ phần mềm này hiện tại chúng tôi đang đặt tại máy chủ của Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia. Thông qua Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, hiện tại đã có 18 trường đại học tham gia vào hệ sinh thái này cùng chúng tôi. Chúng tôi đã hỗ trợ tất cả 18 trường đại học này cài đặt và hoàn thành công việc hướng dẫn sử dụng các công cụ này tại các trường, phục vụ cho công tác giảng dạy.

Có 6 trường trong 18 trường này đã dùng công cụ của Cadence để đưa vào các chương trình giảng dạy hiện tại. 18 trường đại học này bao gồm khối Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TPHCM, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Công nghiệp và khối đại học tại TPHCM.

Ngoài việc cung cấp phần mềm, chúng tôi đồng hành với tất cả các trường đại học trong việc cung cấp các giải pháp, thông tin, cách sử dụng công cụ, các công nghệ thiết kế. Chúng tôi cung cấp gì? Chúng tôi cung cấp phần mềm, tài liệu, cung cấp giáo trình giảng dạy, cung cấp hệ thống đào tạo online, giúp các giảng viên tại tất cả các trường đại học có thể tiếp cận được các công nghệ thiết kế, thực tế các công nghệ thiết kế sử dụng phần mềm như thế nào trong quy trình thiết kế của mình.

Bên cạnh hỗ trợ cơ sở vật chất, chúng tôi cũng thấy rằng, nếu chỉ cung cấp phần mềm, tài liệu, các khóa học,… thì thực sự các thầy cô, giảng viên cũng có thể tiếp cận được. Chúng tôi đã kết hợp với Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia và Khu công nghệ cao TPHCM triển khai các lớp học cho giảng viên tại các trường đại học.

Các lớp học này có khoảng 60 giảng viên các trường đại học tại TPHCM, Hà Nội và Cần Thơ cùng học. Tuy nhiên qua các khóa học đó, chúng tôi không thể truyền tải cho tất cả giảng viên thật sâu được nhưng các giảng viên có được sự trải nghiệm thực tế thiết kế bên ngoài như thế nào để áp dụng vào các chương trình giảng dạy của từng trường.

Bên cạnh hỗ trợ giảng viên, người học,… chúng tôi còn tham gia, đồng hành với Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, FPT, TreSemi trong việc tổ chức lớp học không phải là cho giảng viên chuyên ngành mà là học viên, sinh viên, các giảng viên không thuộc khối trường đại học hợp tác trong chương trình. Tất cả các học viên đó đều có cơ hội tiếp cận học về thiết kế vi mạch như thế nào. Khóa đầu có 80 học viên từ Hà Nội, Đà Nẵng và TPHCM đã tham gia.

Đây là tất cả những hoạt động thiết thực mà chúng tôi đã đồng hành với Chính phủ trong thời gian qua để phát triển nguồn nhân lực cũng như ngành vi mạch tại Việt Nam

Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục duy trì hoạt động này và sẽ triển khai nhiều hoạt động ý nghĩa, thiết thực cùng với các trường đại học cũng như các trung tâm đào tạo.

Ông Hùng Trần, Giám đốc điều hành Got It – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Ông Hùng Trần, Giám đốc điều hành Got It: Trước hết, tôi xin cảm ơn ban soạn thảo đã có một đề án rất chi tiết, cụ thể những số liệu, những mục tiêu và đặc biệt là việc lấy các ý kiến của chuyên gia người Việt ở nước ngoài.

Bây giờ chúng ta nói đến các con số là các kỹ sư mà chúng ta sẽ đào tạo được là 50.000, nhưng cũng phải tìm được các con số thực hành là bao nhiêu người sẽ làm được việc tốt.

Tôi có một số đề xuất đóng góp cho Đề án để làm sao nguồn nhân lực chúng ta tạo ra thực sự có giá trị và thu hút được nhiều cơ hội tốt cho Việt Nam. Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia đã bắt đầu xây dựng mạng lưới những chuyên gia người Việt ở nước ngoài. Theo tôi đây là một chiến lược ngắn hạn rất thông minh. Bởi vì chúng ta có rất nhiều người Việt đang làm việc thực tế ở các công ty toàn cầu chứ không chỉ giảng dạy hay nghiên cứu. Nếu trong chiến lược ngắn hạn chúng ta có những người nhanh chóng làm được việc trong vòng 24 tháng tới, thì phải ngay lập tức thu hút được đội ngũ này.

Và trong chương trình đào tạo, đào tạo lý thuyết là một chuyện nhưng làm được việc là một chuyện khác. Đào tạo trong công việc rất quan trọng. Khi chúng ta thu hút được mạng lưới này về, thậm chí là có thể có chương trình một kèm một để các chuyên gia người Việt ở nước ngoài thực sự giúp cho các học viên ở Việt Nam chuyển đổi sang ngành này có thể làm được việc. Đấy là một việc rất quan trọng bởi vì nếu học mà không có thực hành, không có người hướng dẫn thì sẽ rất khó, chỉ biết qua loa mà thôi.

Thứ hai, cần có chương trình dài hạn. Đề án đến năm 2050, có nghĩa là các kỹ sư mà điểm cuối Đề án còn chưa được sinh ra. Bây giờ chúng ta có chương trình như nào cho họ. Phải có những chương trình đào tạo cho học sinh từ cấp 1, cấp 2. Khi muốn có những người giỏi, những kỹ sư có thể thiết kế được, chúng ta phải có học sinh thật tốt ngay từ khi còn bé chứ không thể đến khi người ta bảo học mới bắt đầu đào tạo.

Thay mặt cho những người là người Việt làm việc ở nước ngoài và cá nhân tôi làm việc ở Thung lũng Silicon, sẵn sàng hợp tác với Chính phủ, hợp tác với các đơn vị ở trong nước để Việt Nam tận dụng được những cơ hội này. Chúng ta không thể chờ mãi được mà phải tiến hành ngay. Nếu có các công việc cụ thể, đội ngũ người Việt làm việc ở nước ngoài rất sẵn sàng hợp tác để tận dụng được cơ hội này.

Chủ tịch Tập đoàn FPT Trương Gia Bình – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Chủ tịch Tập đoàn FPT Trương Gia Bình: Cách đây một tuần trong buổi gặp mặt với đại sứ Mỹ, đại sứ Nhật Bản, đại sứ Singapore, có vị đại sứ nói với tôi rằng: Ông không biết cơ hội của đất nước ông lớn thế nào đâu. Nhưng các ông chỉ có 18 tháng thôi. Họ cũng không giải thích cho tôi vì sao.

Có hai vấn đề: Một là cơ hội gì? Hai là thời hạn nào?

Cơ hội ở đây là bán dẫn. Ngành bán dẫn chọn quốc gia, dân tộc. Nhưng Việt Nam chỉ có 18 tháng thôi, vì thế giới sẽ không chờ chúng ta. Rồi thế giới sẽ phải chọn đường khác nếu chúng ta không đáp ứng kịp. Bằng mọi giá thế giới không thiếu chip được.

Thời kỳ COVID, thế giới đã khốn khổ đến thế nào? Hãng ô tô hàng đầu của Mỹ sản xuất ra không bán được. Hiệp hội Bán dẫn Mỹ đến các nước thúc đẩy, lập danh sách, xây dựng và bây giờ là bỏ tiền tấn để có thể sản xuất để không sợ đứt gãy chuỗi cung ứng. Chính phủ Nhật Bản và các nước khác cũng như vậy.

Tôi rất ủng hộ cách tiếp cận của Thủ tướng, chỉ cách đó may ra còn kịp. Chúng ta phải tính thời gian 18 tháng bằng cách tiệm cận và đột phá. Tôi cũng đồng ý cách tiếp cận của Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng là chúng ta nhìn vấn đề rất lớn, không làm việc nhỏ.

Ông Jensen Huang – CEO NVIDIA khi đến Việt Nam có nói: Việt Nam là quốc gia duy nhất có thể tham gia đầy đủ các công đoạn của chuỗi bán dẫn. Đột phá mới là quan trọng. Chúng ta phải đột phá về thể chế. Trong 18 tháng phải thể hiện Việt Nam không phải chỉ có cơ hội mà còn cam kết với cơ hội đó.

Cam kết giống như Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nói: Việt Nam phải là hub (trung tâm) nhân lực. Vậy làm thế nào để thành hub nhân lực ngay lập tức? Chính quyền và 7 trường đại học ở Đài Loan đến gặp Đại học Quốc gia, Đại học Bách Khoa, Đại học Công nghệ và FPT để tuyển người. Các nước sẵn sàng tài trợ học phí, vé máy bay, chi phí sinh hoạt,… mọi thứ. Và chúng ta phải đáp ứng nhiều nhất có thể về nguồn nhân lực cho họ. Vì họ đã nói thiếu 1 triệu người. Chúng ta cần chứng minh rằng, Việt Nam có sinh viên sẵn sàng theo học.

 Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Bắc Giang Mai Sơn chia sẻ về kinh nghiệm đào tạo nhân lực công nghiệp bán dẫn tại địa phương – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Bắc Giang Mai Sơn: Hiện nay, tại các khu công nghiệp của Bắc Giang có 3 doanh nghiệp sản xuất trong ngành công nghiệp bán dẫn, trong đó có 2 doanh nghiệp của Hàn Quốc và 1 doanh nghiệp của Pháp.

Số lao động làm việc trong các doanh nghiệp đó là 8.074 người, trong đó có 175 chuyên gia, số chuyên gia có trình độ đại học là 704, cao đẳng là 715, còn lại cơ bản là công nhân có trình độ phổ thông (chiếm hơn 78%).

Đối với doanh nghiệp sản xuất chip bán dẫn của Hàn Quốc trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, tỉ lệ lao động phổ thông thấp hơn, khoảng 50-60%, còn lại 15% có trình độ đại học, 25% có trình độ cao đẳng.

Để đáp ứng nhu cầu nhân lực phục vụ sản xuất ngày càng mở rộng của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh và để chủ động chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đón làn sóng đầu tư mới trong ngành công nghiệp bán dẫn, chúng tôi đã chỉ đạo trường Cao đẳng Việt Hà triển khai dự án do Hàn Quốc tài trợ qua ODA, phối hợp chặt chẽ với các công ty sản xuất chip bán dẫn của Hàn Quốc hoạt động trên địa bàn tỉnh để đào tạo nhân lực, phục vụ cho ngành bán dẫn.

Đến nay, các công ty này đã tuyển 99 sinh viên của Cao đẳng Việt Hà. Cách thức phối hợp đào tạo là các công ty cử kỹ sư cùng xây dựng và thiết kế chương trình giảng, sau đó cùng giảng dạy với giảng viên của trường. Họ cũng hỗ trợ một số máy móc thông thường và thiết kế, bố trí máy móc của nhà trường đang có để thiết kế thành quy trình giảng dạy mô phỏng quy trình sản xuất bán dẫn như trong nhà máy của họ.

Họ cũng hỗ trợ đưa sinh viên của tới thực tập tại công ty.

Được sự đồng ý của Thủ tướng, tỉnh Bắc Giang cũng đã triển khai 2 đoàn công tác đi Nhật Bản và Đài Loan, gặp gỡ các đối tác và có những trao đổi, ký kết để hỗ trợ Bắc Giang trong đào tạo ngành bán dẫn.

Trước mắt, họ cam kết giảng dạy cho các giảng viên các trường ở Bắc Giang, đồng thời họ cũng đang tuyển sinh 30-40 học sinh tốt nghiệp lớp 12 và có điểm trung bình môn từ 7,0 trở lên để du học bên Đài Loan, miễn phí hoàn toàn 2 năm đầu, năm thứ 3 và 4 đi làm, thực tập trong nhà máy và có lương trang trải cuộc sống.

Tỉnh cũng đã phối hợp với trường Minh Tân của Đài Loan đưa 15-20 sinh viên tốt nghiệp Cao đẳng Việt Hà sang đó để đào tạo và cũng miễn chi phí đào tạo.

Tỉnh cũng đã phê duyệt đề án triển khai đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ chuyển đổi số của Bắc Giang. Tỉnh miễn phí 100% cho tất cả cán bộ viên chức của tỉnh học thạc sĩ về công nghệ thông tin, miễn phí 100% cho những ai học những ngành gần công nghệ thông tin.

Chúng tôi cũng ban hành kế hoạch tổ chức cuộc thi Robocon tỉnh Bắc Giang lần thứ nhất để học sinh, sinh viên Bắc Giang đam mê học stem, hướng tới học ngành kỹ thuật nhiều hơn. Chúng tôi đang tuyên truyền vận động để học sinh học stem nhiều hơn và có đam mê học các ngành gần và đúng với ngành công nghệ thông tin, ngành bán dẫn.

Chúng tôi cũng đã tổ chức hội thảo về thực trạng, giải pháp phát triển nguồn lao động trong ngành công nghiệp bán dẫn tỉnh Bắc Giang. Các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà quản lý và các doanh nhân trong hệ sinh thái sản xuất bán dẫn tham dự hội thảo.

Sau khi nghe các doanh nghiệp khuyến nghị, tỉnh Bắc Giang đang tập trung xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực bán dẫn cho tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2024-2030, trong đó chúng tôi xác định tập trung cao cho nhân lực đáp ứng phân đoạn kiểm thử và đóng gói.

Tỉnh sẽ tiếp tục hợp tác với các trường đại học, các doanh nghiệp bán dẫn tại Bắc Giang để đào tạo nhân lực bán dẫn. Điều này rất quan trọng, vì chúng tôi nghĩ để đào tạo nhân lực bán dẫn thì phải phối hợp được với doanh nghiệp đang làm bán dẫn vì họ có điều kiện, kinh nghiệm, máy móc, thiết bị để sinh viên thực tập.

Chúng ta cần có đề xuất với Bộ Chính trị có nghị quyết về lĩnh vực này, từ đó mới có những chính sách đột phá. Chúng tôi cũng đề nghị cần nghiên cứu để có cơ chế hỗ trợ khu đô thị bán dẫn. Tỉnh Bắc Giang đã quy hoạch khu này để phục vụ cho sự phát triển ngành công nghiệp bán dẫn theo hướng đô thị bán dẫn.

Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP. Đà Nẵng Hồ Kỳ Minh phát biểu tại Hội nghị – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Phó Chủ tịch Thường trực UBND thành phố Đà Nẵng Hồ Kỳ Minh: Hiện nay, trên địa bàn TP. Đà Năng có một số doanh nghiệp ngành bán dẫn đang hoạt động với khoảng trên 700 kỹ sư. Về đào tạo nguồn nhân lực, Thành phố có 17 cơ sở đào tạo chuyên ngành công nghệ thông tin; 13 cơ sở đào tạo điện tử viễn thông, tự động hóa, cơ điện tử. Trong đó, chỉ tiêu tuyển sinh ngành công nghệ thông tin khoảng 4.500 sinh viên/năm và điện tử viễn thông khoảng 700 sinh viên/năm. Đây là nguồn nhân lực rất quan trọng để đào tạo nâng cao, chuyển đổi sang ngành bán dẫn.

Thời gian qua, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về ưu tiên, tập trung phát triển ngành công nghiệp bán dẫn, TP. Đà Nằng đã chủ động thành lập các đoàn công tác đi xúc tiến đầu tư về lĩnh vực bán dẫn ở Hoa Kỳ, Đài Loan và làm việc trực tiếp với nhiều doanh nghiệp, tập đoàn hàng đầu thế giới về bán dẫn. Thành phố tiếp tục hoàn thiện cơ sở vật chất Khu công viên phần mềm số 2 sau khi Chính phủ có Nghị định số 09/2024 cho phép đầu tư và khai thác sử dụng Khu công viên phần mềm này để thu hút các doanh nghiệp hàng đầu về bán dẫn. Bên cạnh đó, Thành phố đã chủ động làm việc với các cơ sở đào tạo trên địa bàn và cơ sở đào tạo của Hoa Kỳ, Đài Loan… để xây dựng các chương trình đào tạo về bán dẫn cho đội ngũ giảng viên các trường đại học trên địa bàn cũng như đào tạo nhân lực theo yêu cầu của các doanh nghiệp bán dẫn.

Trên cơ sở kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại hội nghị hôm nay và Đề án “Phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến năm 2045” sau khi được ban hành, thành phố Đà Nẵng sẽ tập trung: Thứ nhất là tiếp tục xúc tiến đầu tư để thu hút các doanh nghiệp bán dẫn hàng đầu trên thế giới để đầu tư vào lĩnh vực thiết kế chíp bán dẫn tại Khu công viên phần mềm số 2 và đầu tư vào lĩnh vực kiểm thử đóng gói tại Khu công nghệ cao Đà Nẵng.

Thứ hai là Thành phố hỗ trợ tạo điều kiện về cơ sở vật chất để hình thành các trung tâm bán dẫn từ nguồn vốn đầu tư công của trung ương hoặc là của doanh nghiệp bán dẫn.

Thứ ba là Thành phố chủ động làm việc với các doanh nghiệp bán dẫn hàng đầu ở Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan,… để nắm bắt nhu cầu nhân lực và phối hợp với các cơ sở đào tạo trên địa bàn thành phố cũng như các trường đại học quốc tế để thiết kế các chương trình đào tạo thực hành bán dẫn phù hợp.

Thứ tư là Thành phố bố trí ngân sách để hỗ trợ các chương trình đào tạo, trao đổi giảng viên đại học, đào tạo nâng cao chuyển đổi bán dẫn, hỗ trợ đào tạo nhân lực theo yêu cầu của doanh nghiệp bán dẫn, thu hút các chuyên gia nhà khoa học là những Việt kiều về làm việc tại các cơ sở đào tạo, doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố.

Về kiến nghị, đề xuất, hiện nay hồ sơ xây dựng Nghị quyết đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng trong đó có chính sách ưu tiên phát triển bản dẫn đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Chính phủ. Thành phố kính đề nghị Thủ tướng Chính phủ, các bộ trưởng ủng hộ thông qua và sớm trình Nghị quyết này để Đà Nẵng có cơ sở phát triển lĩnh vực bán dẫn, góp phần thực hiện thành công đề án.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn: Trong nhiều cuộc họp giao ban và các diễn đàn, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ nhắc nhiều đến vấn đề đào tạo nguồn nhân lực trong ngành bán dẫn và cũng đã nhiều lần giao nhiệm vụ cho ngành giáo dục và đào tạo. Đối với ngành giáo dục và đào tạo, chúng tôi xác định đây là trách nhiệm và sứ mệnh lớn của ngành, là cơ hội để phát triển các trường đại học.

Hiện nay, trong các trường đại học, hai nhóm đào tạo nhân lực trong lĩnh vực điện tử viễn thông và công nghệ thông tin có số sinh viên đang đào tạo bậc cử nhân và kỹ sư là 131.000, bậc thạc sĩ là 5.500 người và có hơn 400 nghiên cứu sinh. Đây là con số rất quan trọng, cho thấy chúng ta đã có nền tảng. Nếu chúng ta điều phối tốt thì có số này sẽ đem đến sự đột biến khá nhanh chóng. Trước mắt, trên cơ sở nguồn nhân lực này, chúng ta có thể đáp ứng được nhu cầu nhân lực cho các doanh nghiệp FDI. Do đó, việc chuyển đổi trong mô hình ngắn hạn là thích hợp và có thể cung cấp được nguồn lực nhanh chóng mà doanh nghiệp cần.

Tuy nhiên, con số này chỉ là tiềm năng, còn thực tế thì rất biến hóa. Bởi vì số nhân lực đào tạo trong lĩnh vực điện tử thì một số chưa tốt nghiệp, nhưng năm cuối đã được các doanh nghiệp đón đi làm. Cho nên con số 131.000 sinh viên là tính trên lý thuyết thống kê, còn thực tế cần tính toán lại. Bên cạnh việc đào tạo ngắn hạn, chúng ta cũng phải tính đến việc đào tạo chính quy đúng ngành một cách dài hạn. Đồng thời cũng phải tính rất sát đến nhu cầu sử dụng lao động thực của các doanh nghiệp. Nếu tính không đúng sẽ dẫn đến cung – cầu lệch nhau.

Mặt khác, trong việc đào tạo chính quy chuyên sâu và dài hạn trong lĩnh vực thiết kế vi mạch thì phải tính đến mục tiêu dài hạn, mang tầm Quốc gia.

Các công việc mà ngành giáo dục và đào tạo đã và đang triển khai là đã tổ chức rất nhiều cuộc hội thảo, diễn đàn, đã kết nối các mạng lưới cơ sở giáo dục đại học để hợp tác với các doanh nghiệp, tìm kiếm các đối tác quốc tế, …

Vào thời điểm này, các trường đại học có hai lợi thế. Thứ nhất, các trường đại học đã bước vào giai đoạn tự chủ cao, nên việc mở ngành, hợp tác với các đối tác quốc tế khiến cho các trường hoạt động năng động. Từ năm 2022 đến nay, nhiều trường đại học đã ký kết với nhiều đối tác quốc tế, các nước để trao đổi chuyên gia. Chính sự năng động và tự chủ của các trường đại học là một lợi thế rất lớn ở thời điểm này. Thứ hai, không chỉ có các trường đại học công lập, mà còn có sự tham gia của các trường đại học ngoài công lập. Đây là sự đóng góp rất lớn vào việc đào tạo nguồn nhân lực cao.

Ngoài ra, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã kết nối với các tập đoàn, các tổ chức trong nước và quốc tế và bản thân Bộ Giáo dục và Đào tạo (theo chỉ đạo của Thủ tướng) đang hoàn thiện và sắp tới trình Thủ tướng đề án phát triển nguồn nhân lực công nghệ kỹ thuật chất lượng cao, trong đó có lĩnh vực vi mạch bán dẫn. Bộ còn được giao thiết kế, xây dựng nguồn nhân lực trong các lĩnh vực khác như công nghệ sinh học, vật liệu, nhiên liệu mới,… Trong đề án này, Bộ sẽ giải bài toán tổng thể như một số nhà khoa học đã nêu ra là cần các phòng thí nghiệm có tính chất liên ngành cả cơ bản và chuyên sâu. Về việc này, chúng tôi đang xem xét về trang thiết bị sao cho hệ thống này phải phục vụ tổng thể cho nhiều lĩnh vực công nghệ cao, chứ không chỉ dành riêng cho một lĩnh vực.

Bộ cũng đang chỉ đạo các cơ sở giáo dục đại học tích cực tuyển sinh ngành thiết kế vi mạch bán dẫn từ năm học 2024 này. Hiện nay các trường đại học dự kiến quy mô tuyển sinh 4.000 kỹ sư, 750 thạc sĩ, 60 nghiên cứu sinh và dự kiến sẽ đào tạo bồi dưỡng để chuyển đổi ít nhất 1.700 người.

Theo khuyến cáo của các nhà chuyên môn, nhân lực tham gia trong ngành vi mạch bán dẫn thì trình độ kỹ sư mới chỉ là bước đầu. Còn công đoạn thiết kế vi mạch bán dẫn lại đòi hỏi trình độ thạc sĩ và cao hơn nữa.

Chúng tôi cũng đang ưu tiên cho giảng viên học trình độ tiến sĩ ở lĩnh vực vi mạch bán dẫn. Và hiện nay các trường đã cử hơn 100 lượt giảng viên đi học ở các cơ sở giáo dục nước ngoài nhằm nâng cao kiến thức trong lĩnh vực này.

Có thể nói đến thời điểm này, các trường đại học đã nhập cuộc một cách chủ động, tích cực, sẵn sàng với tinh thần quyết tâm rất cao.

Trong thời gian tới, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra 6 yếu tố then chốt nhằm thúc đẩy tăng số lượng và chất lượng đào tạo ở lĩnh vực này. Đó là sẽ có nhiều sinh viên giỏi theo học lĩnh vực này; chương trình đào tạo và nguồn tài liệu sẽ được cập nhật thường xuyên và hiện đại; có đủ nguồn lực giảng viên có trình độ và kỹ năng cao; có đủ hệ thống phòng thí nghiệm thực hành hiện đại cho các môn học; có sự hợp tác hiệu quả giữa các doanh nghiệp và các trường đại học nước ngoài để giúp nâng cao tính thực tiễn trong quá trình học của sinh viên; gắn kết đào tạo giữa nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo khác.

Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ tập trung đề xuất xây dựng các cơ chế, chính sách mang tính đột phá, các chương trình đào tạo tài năng và các chương trình đầu tư trọng điểm. Nếu các chương trình này được phê duyệt thì sẽ tạo được sự đột biến căn bản về số lượng và nâng cao chất lượng trong việc đào tạo nguồn nhân lực này.

Có ý kiến cho rằng, việc ban hành chính sách là quan trọng nhất, tuy nhiên, đối với hệ thống các trường công lập, thì khâu đầu tư ban đầu cho các phòng thí nghiệm mới là hết sức quan trọng.

Còn các vấn đề khác như phối hợp với các bộ ngành liên quan, chỉ đạo các đơn vị đào tạo trong lĩnh vực này chúng tôi đều đang rất tích cực.

Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng: Thứ nhất, nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp bán dẫn bao gồm nhân lực cho đầy đủ các công đoạn cho ngành công nghiệp này chứ không chỉ riêng cho công đoạn chip bán dẫn

Thứ hai, việc chuẩn bị nguồn nhân lực nên dựa trên dư báo tầm nhìn dài hạn nhưng vẫn phải dựa trên nhu cầu thị trường; việc ký kết các cam kết về nhu cầu nhân lực giữa cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp bán dẫn trong và ngoài nước, tức là tạo đầu ra thì sẽ bảo đảm cho Đề án thành công.

Về quốc gia, Chính phủ cũng nên xem xét, ký kết các hợp tác về cung ứng nhân lực bán dẫn với một số quốc gia đang thiếu hụt nhân lực bán dẫn trầm trọng.

Để bảo đảm Đề án thành công, phải tạo được đầu ra để bảo đảm cho thành công của Đề án, cho nên Ban soạn thảo Đề án nhân lực bán dẫn nên đầu tư nhiều hơn cho bảo đảm đầu ra cho Đề án; khi bảo đảm đầu ra cho Đề án cần chú ý đến thu nhập của lĩnh vực này, đến việc ngành công nghiệp bán dẫn tập trung vào chất lượng, như lương của nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn phải cao hơn lương công nghệ thông tin, nếu không sẽ không thu hút được.

Nhiều khi mình nói thiếu nguồn nhân lực công nghệ cao nhưng không phải mà do lương thấp. Nếu công việc được trả lương cao thì sẽ không có việc thiếu nguồn nhân lực như bây giờ. Nếu chúng ta trả lương cho kỹ sư công nghệ thông tin 10 triệu thì không có nhân lực, 20 triệu thì sẽ có ít nhân lực, 30 triệu có nguồn nhân lực, 40 triệu thì tốt hơn và 50 triệu thì bắt đầu thừa. Do đó chúng ta nói chuyện thiếu nhân lực cho công nghiệp bán dẫn nói chung nhưng phải nói ở công đoạn và ở mức độ nào.

Thứ ba, việc thiếu nguồn nhân lực bán dẫn có tính ngắn hạn, cho nên ngoài việc đào tạo nghiên cứu dài hạn, thậm chí đào tạo tiến sĩ thì vẫn phải chú trọng trong ngắn hạn là đào tạo nhanh và cách tốt nhất là đào tạo lại hoặc đào tạo chuyển tiếp các kỹ sư công nghệ thông tin, công nghệ phần mềm, kỹ sự điện tử,… Chúng ta đang có khoảng 600.000 đến 700.000 kỹ sư ngành này, đào tạo 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng,… là có thể sẵn sàng cho công nghiệp bán dẫn.

Thứ tư, ngành công nghiệp bán dẫn là đầu vào của ngành công nghiệp điện tử, chiến lược công nghiệp bán dẫn ở Việt Nam đã đặt công nghiệp bán dẫn trong một bức tranh lớn hơn là công nghiệp điện tử; chưa có quốc gia nào “hóa rồng”, “hóa hổ” mà không có ngành công nghiệp điện tử. Các quốc gia lớn ngành công nghiệp bán dẫn ở khu vực như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan-Trung Quốc đều có nền công nghiệp điện tử phát triển. Vì vậy, công nghiệp bán dẫn Việt Nam phải đi song hành với công nghiệp điện tử, nhân lực bán dẫn cũng phải đi song hành với nhân lực công nghiệp điện tử.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Thế Duy – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Thế Duy: Trước hết, Bộ Khoa học và Công nghệ nhất trí, đồng tình và rất phấn khởi về chỉ đạo của Thủ tướng cũng như 2 Đề án song hành với nhau: Chiến lược phát triển gắn kết với Đề án đào tạo nguồn nhân lực. Tôi nghĩ đây là cách đi rất phù hợp, đặc biệt là với những bài học kinh nghiệm của chúng ta trong thời gian vừa qua trong một số lĩnh vực.

Đối với lĩnh vực bán dẫn, trong 20 năm vừa qua, rất nhiều trường đại học, đặc biệt là Đại học Quốc gia và Đại học Bách khoa, xây dựng những nhóm nghiên cứu chuyên sâu, có những đề án nghiên cứu rất lớn. Vào những năm 2000, đã có những dự án gần 100 tỷ để phát triển sản phẩm.

Tuy nhiên chúng ta cũng phải thẳng thắn nhìn nhận là có những mảng chưa đạt, chưa thành công, mặc dù chúng ta nghiên cứu, làm ra được sản phẩm. Tôi rất nhất trí rằng nếu chúng ta làm Chiến lược này mà không gắn với đầu ra thì không thành công. Chúng ta đã làm được những con chip nhưng vấn đề lớn nhất là không bán được, không có thị trường. Trong khi đó, kinh nghiệm của doanh nghiệp các nước trên thế giới đều xuất phát từ Chiến lược làm khảo sát thị trường và chọn sản phẩm tiếp cận thị trường.

Với cách thức như thế, về tổng thể Đề án, chúng tôi ủng hộ các mục tiêu. Tuy nhiên, chúng tôi xin bổ sung mấy ý cụ thể để Đề án này cũng như Chiến lược thành công hơn. Đào tạo nguồn nhân lực về vi mạch thì phải chia ra làm nhiều cấp độ và đặc biệt là liên quan đến tìm đầu ra. Cấp độ đầu tiên chúng ta cần quan tâm trong giai đoạn hiện nay, phục vụ mục tiêu đầu ra lớn nhất đó là phục vụ các doanh nghiệp nước ngoài đang có ở Việt Nam, cũng như sẽ chuyển về Việt Nam. Nhóm thứ hai là “outsourcing” cho các doanh nghiệp nước ngoài. Ví dụ như FPT hiện nay đang làm, chúng tôi thấy rất phù hợp, tức là đào tạo, thiết kế để outsourcing. Cái này rất phù hợp với kinh nghiệm đã khá thành công trong lĩnh vực công nghệ thông tin.

20 năm trước đây, chúng ta đi song hành hai hướng, một hướng là các chương trình đào tạo các kỹ sư từ 6 tháng đến 1 năm như aptech. Ví dụ như ngành Toán – Tin, rồi ngành Công nghệ thông tin và tiếng Anh. Cách đấy triển khai trên diện rộng, ngay giai đoạn đầu tiên để đáp ứng nhu cầu và áp dụng nhanh.

Thứ hai là đào tạo trung hạn và dài hạn, ở đây liên quan đến trình độ thạc sĩ, tiến sĩ. Đào tạo này không chỉ riêng phục vụ thị trường mà còn phục vụ xây dựng tiềm lực quốc gia. Đây là lĩnh vực để chúng ta có tiềm lực. Tiềm lực ở đây, thậm chí là nhân lực, có thể không phục vụ cho doanh nghiệp ngay, nhưng thường xuyên nghiên cứu phát triển, duy trì đội ngũ để có những sản phẩm của riêng chúng ta phục vụ an ninh quốc phòng. Tiếp đến, phải xác định được đầu ra, tức là chọn được thị trường hẹp, thị trường nhanh để tập trung phát triển.

Đã có bài học kinh nghiệm của Hàn Quốc và Đài Loan 30 năm trước đây. Những năm 1980 khi Hàn Quốc có Samsung chuyển sang làm chip, trong đó họ làm chip điện thoại thất bại nhưng thành công bởi chip nhớ (RAM). Từ một doanh nghiệp sản xuất thực phẩm, họ chuyển sang làm chip nhớ và vượt được Nhật Bản và Mỹ trong lĩnh vực này. Như vậy, cả Nhà nước và doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực đó.

Cách thức đào tạo hiện nay cần phải theo hướng phát triển hệ sinh thái, các trung tâm đào tạo phải gắn liền với các trường đại học và các doanh nghiệp, tức là chỗ nào càng gần doanh nghiệp thì đầu ra càng chất lượng, càng tốt. Minh chứng là hiện nay chúng ta đang làm khá tốt, bắt đầu nhen nhóm ở Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh. Bắt đầu có các doanh nghiệp đặt cơ sở ở đây, đặt hàng trung tâm đào tạo, lấy sinh viên của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh ra đào tạo thêm 6 tháng, cung cấp nguồn nhân lực cho doanh nghiệp.

Để thành lập các trung tâm đào tạo như thế này, chúng tôi đề xuất không nên chỉ định ngay là Đại học Quốc gia hay là Đại học Bách khoa hay bất cứ đơn vị nào làm trung tâm. Nên theo cách các nước châu Âu và Mỹ đã đề ra, tức là thành lập trung tâm thì sẽ cho viết các đề án; đề án nào xuất sắc nhất thì sử dụng. Đề án đấy phải bao gồm cả các cấu phần người đào tạo, cấu phần về doanh nghiệp, cấu phần về vị trí địa lý… Như vậy hình thành các trung tâm sẽ phù hợp hơn. Khi triển khai các cách như thế, chúng ta có thể học thêm những bài học.

Một ý nữa, đó là hình thành các cụm đổi mới sáng tạo lấy mục tiêu là lan tỏa tri thức. Nhà nước thậm chí bỏ tiền ra mua bản quyền các phần mềm, mua bản quyền các sáng chế để lan tỏa cho bước phát triển sau này, quan trọng nhất là phát triển được các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. Như vậy mới bền vững. Nếu chúng ta đào tạo nguồn nhân lực chỉ để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài FDI thì sẽ không bền vững.

Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung: Về vấn đề đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, không phải bây giờ chúng ta mới làm, các đây 2 nhiệm kỳ, đặc biệt là nhiệm kỳ 2016-2021, Chính phủ cũng đã bàn vấn đề này. Việc xác định nhân lực chọn nội dung này vào thời điểm này là đúng và trúng.

Chúng ta đang có tư duy và tầm nhìn xa, điều này đòi hỏi phải hành động mau lẹ hơn cùng với những công việc cụ thể với 3 vấn đề cốt lõi như Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng đã nêu, trong đó vấn đề lớn nhất đó là vấn đề con người, nhiều quốc gia trên thế giới cũng cần điều này như chúng ta.

Thứ hai, về chuỗi giá trị và công nghệ bán dẫn, cơ bản có 3 vấn đề như báo cáo nêu, thứ nhất là thiết kế, thứ hai là sản xuất, thứ ba là phân loại, thử nghiệm và đóng gói. Vấn đề chúng ta lựa chọn gì?

Báo cáo và đề dẫn của Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng đã đề cập tương đối rõ nội dung này. Thiết kế vẫn là vấn đề khó nhất và đầu tư nhiều nhất, nhưng thu lợi cũng lớn nhất, còn lại các phần khác như đóng gói… Đây chính là lợi thế của chúng ta.

Về vấn đề đạo tạo nguồn nhân lực, chúng ta cũng phải tính toán phù hợp trên cơ sở cung và cầu, không nên tập trung vào một lĩnh vực cụ thể.

Vấn đề thứ hai, tôi đồng tình với việc xác định nội hàm đào tạo và đối tượng đào tạo trong Đề án là đại học và trên đại học, nhưng chúng ta cũng phải tính toán cụ thể để có hướng đi phù hợp cho từng giai đoạn.

Chúng ta cũng cần tập trung vào 5 vấn đề cơ bản, thứ nhất là đào tạo cơ bản dài hạn, thứ hai là đào tạo chuyển đổi; thứ ba là đào tạo nâng cao, thứ tư là đào tạo lại và thứ năm là đào tạo trực tiếp.

Thực tiễn chúng ta có nhiều trường cao đẳng, nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã và đang đào tạo và liên kết đào tạo nhân lực bán dẫn. Đề nghị không nên bỏ phí nguồn nhân lực này.

Thứ trưởng Bộ Tài chính Lê Tấn Cận góp ý hoàn thiện Đề án – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Thứ trưởng Bộ Tài chính Lê Tấn Cận: Về tổng thể, Bộ Tài chính đã có văn bản gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư tham gia một số vấn đề liên quan đến một số chính sách. Hiện nay, đối với vấn đề chung, trên cơ sở y kiến của các đại biểu hôm nay, chúng tôi nhận thấy thông tin dự thảo của Đề án đưa ra đánh giá cụ thể liên quan đến thực trạng của nguồn nhân lực bán dẫn của Việt Nam.

Tại phần đánh giá tổng quan ngành với 4 công đoạn là thiết kế; sản xuất; kiểm thử và đóng gói, trong dự thảo mới đánh giá 3 công đoạn là thiết kế, kiểm thử và đóng gói, còn công đoạn sản xuất thì chưa có đánh giá. Vì vậy, cần có bổ sung thêm thực trạng công đoạn này, để bổ sung cơ sở nhằm đưa ra định hướng phát triển của ngành nói chung và nhân lực ngành bán dẫn nói riêng.

Trên cơ sở đánh giá trực trạng của ngành công nghiệp bán dẫn, dự thảo cần xác định cụ thể về vị trí của ngành này, từ đó tập trung định hướng việc đào tạo nguồn nhân lực trong công nghiệp bán dẫn và phục vụ chủ yếu cho công đoạn nào trong chuỗi giá trị của ngành công nghiệp bán dẫn, để đưa ra mục tiêu và giải pháp phù hợp trong Đề án trong thời gian tới.

Riêng các chính sách về thuế giá trị gia tăng và biên giảm thuế giá trị gia tăng, chính sách ưu đãi thuế được quy định tại Luật thuế – thuộc thẩm quyền của Quốc hội, trong đó tập trung miễn giảm ở các lĩnh vực, địa bàn theo chủ trương của Đảng và Nhà nước.

Đối với thuế thu nhập cá nhân trong ngành công nghiệp bán dẫn, hiện nay không có ưu đãi và Đề án sẽ xem xét vấn đề này.

Bộ Tài chính sẽ tham mưu và đề xuất các chính sách có liên quan đến tài chính để chúng ta thực hiện tốt hơn trong thời gian tới.

Trong dự thảo Đề án có đề cập đến tổng mức kinh phí, trong đó có phân ra ngân sách của Nhà nước và nguồn xã hội hoá, đồng thời phân loại được tính chất nguồn vốn đầu tư và nguồn chi thường xuyên. Đây là vấn đề rất cần thiết để các cấp có thẩm quyền hiểu được quy mô, phạm vi của dự án cũng như trách nhiệm để đảm bảo triển khai.

Chúng tôi đề nghị làm rõ thêm nguồn kinh phí thực hiện Đề án trong trường hợp sử dụng kinh phí chi cho phát triển sự nghiệp khoa học công nghệ.

Nhiệm vụ của Bộ Tài chính thực hiện theo 2 nhóm trong Đề án. Bộ Tài chính sẽ căn cứ vào nhiệm vụ và có nguồn vốn thực hiện Đề án.

Bí thư Thường trực Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Nguyễn Ngọc Lương phát biểu tại Hội nghị – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Bí thư Thường trực Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Nguyễn Ngọc Lương: Đối với các nội dung liên quan đến Trung ương Đoàn, xin cam kết với Thủ tướng, các đồng chí lãnh đạo, chúng tôi sẽ tham gia thực hiện tích cực và chủ động.

Thứ nhất là sẽ thông qua hệ thống tổ chức đoàn, tổ chức hội các cấp, hệ thống các cơ quan báo chí của đoàn, thông qua các kênh mạng xã hội để tuyên truyền sâu rộng về ý nghĩa, mục đích và tầm quan trọng của việc triển khai thực hiện đề án. Từ đó phát huy tốt vai trò xung kích của thanh niên trong tham gia thực hiện công cuộc chuyển đổi số, trong đó vận động các bạn đoàn viên thanh niên có thêm ý tưởng, có thêm cảm hứng, có thêm động lực để tham gia.

Thứ hai, chúng tôi cam kết phối hợp với các tỉnh, thành các tổ chức cá nhân để có những mô hình tốt để thanh niên các nơi thực hiện tốt.

Thứ ba là chúng tôi thông qua các thiết chế và các chương trình hiện nay đã có của Trung ương Đoàn ví dụ như Trung tâm khoa học công nghệ tài năng trẻ và Học viện Thanh thiếu niên, Mạng lưới tri thức trẻ Việt Nam toàn cầu, Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam,… để cổ vũ, tuyên dương các cá nhân thực hiện tốt các công việc này. Cùng với đó là các đề án đã được Thủ tướng Chính phủ giao thực hiện ví dụ như chuyển đổi số, ví dụ như đào tạo đội ngũ cán bộ chất lượng cao… để đóng góp vào việc thực hiện thành công Đề án.

Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu kết luận Hội nghị – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Đào tạo nhân lực ngành bán dẫn là “đột phá của đột phá”

Phát biểu kết luận, Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ sau một buổi làm việc khẩn trương, trách nhiệm, Hội nghị về Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp bán dẫn đã cơ bản hoàn thành Chương trình và nội dung đã đề ra.

Các đại biểu đã có nhiều ý kiến đồng tình, thẳng thắn, tâm huyết, sát thực tế, khả thi với chủ đề Hội nghị. Thủ tướng giao VPCP, Bộ KH&ĐT tiếp thu tối đa ý kiến xác đáng, sớm hoàn thiện Thông báo kết luận của Thủ tướng sau Hội nghị.

Thủ tướng cơ bản thống nhất với các báo cáo và ý kiến phát biểu của các đại biểu, nhấn mạnh thêm một số nội dung.

Theo Thủ tướng, 5 trụ cột để phát triển ngành công nghiệp bán dẫn gồm: Xây dựng hạ tầng; hoàn thiện thể chế; đào tạo nhân lực; huy động nguồn lực; xây dựng hệ sinh thái phát triển.

Về nhận thức, Thủ tướng chỉ rõ: Đại hội XIII của Đảng xác định phát triển đất nước nhanh, bền vững, dựa vào khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; Đảng, Nhà nước xác định 3 đột phá chiến lược, trong đó có đào tạo nhân lực; quan điểm xuyên suốt trong phát triển đất nước là lấy con người làm trung tâm, chủ thể, là mục tiêu, nguồn lực, động lực phát triển; phát triển công nghiệp bán dẫn là yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược, ưu tiên hàng đầu; phát triển ngành bán dẫn sẽ kéo theo các ngành phụ trợ khác.

Về chủ trương, chính sách, Nghị quyết Đại hội XIII khẳng định tiếp tục phát triển toàn diện nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng đã xác định mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao.

Kết luận số 64-KL/TW ngày 18/10/2023 của Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về kinh tế – xã hội năm 2023-2024 đã yêu cầu: “Tập trung đào tạo 50-100 nghìn nhân lực chất lượng cao cho ngành sản xuất chíp bán dẫn đến năm 2025 và năm 2030”.

Chính phủ đã giao Bộ KH&ĐT (Nghị quyết 124/NQ-CP ngày 07/8/2023) chủ trì, phối hợp với Bộ KH&CN, Bộ TT&TT và Bộ GD&ĐT nghiên cứu, xây dựng Đề án phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030; giao Bộ TT&TT xây dựng Chiến lược Phát triển ngành bán dẫn Việt Nam đến năm 2030.

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 (Quyết định 569/QĐ-TTg ngày 11/5/2022), xác định công nghiệp bán dẫn là ngành công nghệ cao, là lĩnh vực được ưu tiên.

Về cơ sở hạ tầng, Việt Nam đã thành lập Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC), Khu công nghệ cao TP.HCM, Khu công nghệ Hòa Lạc và nhiều khu công nghệ thông tin tập trung.

Nhiều doanh nghiệp công nghệ thông tin đang có định hướng phát triển trong lĩnh vực này (Viettel, VNPT, FPT, CMC,…), có thể phối hợp, hỗ trợ trong công tác đào tạo nguồn nhân lực cũng như sử dụng chính nguồn nhân lực của những doanh nghiệp này.

Nước ta có khoảng 240 trường đại học, trong đó gần 160 trường có chuyên ngành đào tạo kỹ thuật, có khả năng chuyển đổi để đào tạo nhân lực bán dẫn; có 35 cơ sở đào tạo đã và đang đào tạo các ngành có liên quan đến công nghiệp bán dẫn.

Trong 20 năm qua, Việt Nam đã đào tạo ra hàng trăm nghìn lập trình viên, hàng triệu nhân lực công nghệ thông tin, đây là cơ sở quan trọng khẳng định khả năng đào tạo 50.000 -100.000 nhân lực ngành bán dẫn đến năm 2030.

Về các địa phương, TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Bắc Giang, Hải Phòng, Quảng Ninh,… đều thể hiện quyết tâm thu hút, tạo điều kiện và dành nhiều nguồn lực cho phát triển nhân lực bán dẫn cũng như xây dựng hệ sinh thái cho ngành bán dẫn.

Về hợp tác quốc tế, Việt Nam đã có quá trình lâu dài và đang đẩy mạnh hợp tác đào tạo nhân lực với nhiều nước, trong đó có lĩnh vực công nghệ thông tin. Việt Nam đã ký Biên bản ghi nhớ hợp tác với Hoa Kỳ về phát triển hệ sinh thái ngành công nghiệp bán dẫn, nhấn mạnh đến việc hợp tác phát triển nguồn nhân lực cho ngành. Các tập đoàn hàng đầu (NVIDIA, Samsung,…) cũng có sự quan tâm, định hướng nghiên cứu, đầu tư, phát triển và hướng tới xây dựng cứ điểm sản xuất bán dẫn tại Việt Nam.

Thủ tướng nêu rõ, trên đây là những điều kiện, nền tảng và tiền đề quan trọng để phát triển nhân lực bán dẫn chất lượng cao.

Về mục tiêu đào tạo từ 50.000-100.000 kỹ sư cho ngành bán dẫn, Thủ tướng nhấn mạnh các quan điểm:

Thứ nhất, coi đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp bán dẫn là đột phá của đột phá trong đào tạo nhân lực chất lượng cao.

Thứ hai, đa dạng hóa các loại hình đào tạo như đào tạo cơ bản, đào tạo lại, đào tạo chuyển đổi, đào tạo kỹ năng, đào tạo tiến sĩ, đào tạo trong và ngoài nước, đào tạo thông qua sản xuất kinh doanh.

Thứ ba, đa dạng hóa mọi nguồn lực, gồm nguồn lực nhà nước, xã hội, nhân dân; phát huy quan hệ Nhà nước – xã hội – thị trường và đẩy mạnh hợp tác công – tư.

Thủ tướng khái quát các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới.

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế về đào tạo nhân lực bán dẫn với cơ chế, chính sách ưu đãi, đặc thù.

Thứ hai, đầu tư cho hạ tầng phục vụ đào tạo nhân lực bán dẫn, gồm cơ sở đào tạo, nhà trường, phòng thí nghiệm, nơi sản xuất, …

Thứ ba, đào tạo đội ngũ giáo viên, giảng viên; xây dựng chương trình, giáo trình phù hợp.

Thứ tư, phương thức đào tạo là cả tiệm cận và đột phá, cả trước mắt và lâu dài.

Thứ năm, huy động, đa dạng hóa nguồn lực của Nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp, …

Thủ tướng yêu cầu các bộ ngành, các cấp, địa phương, doanh nghiệp, đại học, các chủ thể liên quan căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình chủ động, tích cực, linh hoạt xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện để triển khai các giải pháp cụ thể phát triển nhân lực ngành bán dẫn.

Về các nhiệm vụ cụ thể, Thủ tướng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư rà soát, hoàn thiện, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Đề án “Phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến năm 2045” với cơ chế, chính sách phù hợp; phối hợp với các địa phương trong triển khai; thu hút đầu tư nước ngoài để phát triển ngành công nghiệp vi mạch bán dẫn trong nước.

Bộ Thông tin và Truyền thông khẩn trương trình Thủ tướng phê duyệt Chiến lược phát triển công nghiệp vi mạch bán dẫn Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn 2050.

Bộ Giáo dục và Đào tạo lên kế hoạch đào tạo nhân lực bán dẫn; xây dựng phương án hợp tác, chương trình, giáo trình; hướng dẫn các cơ sở đào tạo, nghiên cứu mở thêm chuyên ngành bán dẫn,…

Bộ Khoa học và Công nghệ thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực chip bán dẫn; chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện các nhiệm vụ khoa học công nghệ về ngành công nghiệp bán dẫn.

Bộ LĐ-TB&XH nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách giấy phép lao động cho người nước ngoài nhằm tạo điều kiện thu hút chuyên gia, người lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc trong ngành bán dẫn; nghiên cứu thúc đẩy hình thành thị trường lao động bán dẫn nói riêng, trong thị trường lao động nói chung.

Bộ Ngoại giao thúc đẩy ngoại giao kinh tế phục vụ đào tạo, thu hút nhân lực bán dẫn; hợp tác quốc tế, trao đổi kinh nghiệm trong lĩnh vực vi mạch bán dẫn.

Bộ Công an nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách visa, tạo thuận lợi thu hút chuyên gia nước ngoài trong ngành bán dẫn nói riêng và đào tạo nhân lực nói chung.

Bộ Quốc phòng, Bộ Công an nghiên cứu, chỉ đạo các đơn vị liên quan như: các viện nghiên cứu, học viện, trường đại học, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp quốc phòng, an ninh… tham gia triển khai các chương trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn, đặc biệt ứng dụng, phục vụ cho an ninh quốc phòng.

Bộ Tài chính nghiên cứu, đề xuất các cấp có thẩm quyền sửa đổi cơ chế sử dụng ngân sách nhà nước triển khai Đề án; sửa đổi, bổ sung các chính sách ưu đãi thuế phù hợp.

Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng chính sách xem xét và đề xuất các cơ chế, chính sách đặc thù về cơ chế tiết kiệm và chuyển tiền thuận lợi cho các chuyên gia quốc tế làm việc tại Việt Nam trong lĩnh vực chip bán dẫn; chính sách cho vay ưu đãi cho sinh viên để thu hút, khuyến khích học tập, nâng cao kĩ năng trình độ phục vụ công việc ngành bán dẫn.

UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương rà soát, nghiên cứu, quyết định theo thẩm quyền hoặc trình cấp ủy, HĐND về bố trí nguồn ngân sách hỗ trợ học bổng, các chính sách ưu đãi cho sinh viên địa phương học ngành bán dẫn; triển khai thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp của Đề án.

Các trường đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp chủ động tham gia và tăng cường hợp tác chặt chẽ trong mối quan hệ giữa Nhà nước, đại học, viện nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp nhằm đẩy mạnh hợp tác quốc tế về đào tạo Và phát tiển nguồn nhân lực bán dẫn.

Các doanh nghiệp, nhà đầu tư tham gia hình thành thị trường nhân lực bán dẫn, tích cực tham gia đóng góp thực hiện Đề án; phối hợp chặt chẽ với các địa phương, các cơ sở đào tạo xác định nhu cầu đào tạo, xây dựng chương trình đào tạo; đồng hành, bổ sung nguồn lực cùng nhà nước để hỗ trợ triển khai Đề án.

Thủ tướng mong muốn sau hội nghị, các chủ thể liên quan nâng cao nhận thức, hiểu rõ nhiệm vụ của mình để xác định và tổ chức thực hiện linh hoạt, hiệu quả các giải pháp, đạt được mục tiêu đào tạo 50.000 – 100.000 nhân lực cho công nghiệp bán dẫn vào năm 2030.

Tổng hợp từ Báo Chính phủ

Dark mode